Ái Tân Giác La

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ái Tân Giác La
Tên tiếng Trung
Phồn thể: 愛新覺羅
Giản thể: 爱新觉罗
Tên Mãn Châu
Tiếng Mãn Châu: AisinGioro.png
Dòng tộc Ái Tân Giác La
Quốc gia Nhà Thanh, Mãn Châu Quốc
Danh hiệu Hoàng đế nhà Thanh
Hoàng đế Mãn Châu Quốc
Người sáng lập Nỗ Nhĩ Cáp Xích
Người cuối cùng Phổ Nghi
Sáng lập 1644
Deposition 1912: Bãi bỏ chế độ phong kiến
Dân tộc Mãn Châu

Ái Tân Giác La (tiếng Mãn: ᠠᡳᠰᡳᠨ ᡤᡳᠣᡵᠣ, phiên âm: Aisin Gioro; Trung văn giản thể: 爱新觉罗; phồn thể: 愛新覺羅; bính âm: àixīn juéluó) là họ của các hoàng đế nhà Thanh. Dòng họ Ái Tân Giác La đã cai trị Trung Quốc cho đến khi Cách mạng Tân Hợi thành công vào năm 1911 và thành lập một chính quyền cộng hòa thay thế cho triều đình nhà Thanh. Từ Ái Tân (aisin) có nghĩa là vàng trong tiếng Mãn, và từ Giác La (gioro) là tên của một địa danh mà nay là Y Lan thuộc Hắc Long Giang. Theo phong tục Mãn Châu, các dòng họ được nhận biết đầu tiên là bởi Hala (哈拉, cáp lạp), tức là tên họ tộc hay bộ tộc của họ, và sau đó là Mukūn (穆昆, mục côn), một sự phân loại mang đặc trưng của các gia đình, dòng tộc. Trong trường hợp của Ái Tân Giác La, Ái Tân là Mukūn, và Gioro là Hala. Các dòng họ khác của bộ tộc Giác La bao gồm Y Nhĩ Căn Giác La (伊尔根觉罗, Irgen Gioro), Thư Thư Giác La (舒舒觉罗, Susu Gioro) và Tây Lâm Giác La (西林觉罗, Sirin Gioro) và một số dòng họ khác.

Vào thời nhà Kim (1115–1234), người Nữ Chân, tổ tiên của người Mãn đã được gọi là aisin gurun. Trong những năm đầu dưới triều nhà Thanh, dòng họ này được gọi là (Amaga aisin gurun1.png) amaga aisin gurun,. Từ khi nhà Thanh sụp đổ, một số thành viên của dòng họ đã chuyển họ của mình sang Kim (tiếng Trung: ). Đáng chú ý, em trai của hoàng đế Phổ Nghi đã chuyển họ tên của mình từ Ái Tân Giác La Phổ Nhậm (愛新覺羅溥任, phiên âm Mãn: Aisin-Gioro Puren) thành Kim Hữu Chi (金友之) và các con của ông cũng mang họ Kim.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tộc Ái Tân Giác La có nguồn gốc từ Mãn Châu, và tự coi mình là hậu duệ của tộc Nữ Chân, tộc người cai trị nhà Kim (1115–1234) gần 5 thế kỷ. Dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhĩ Cáp Xích và con trai là Hoàng Thái Cực, bộ tộc Ái Tân Giác La đã giành được quyền lãnh đạo các bộ tộc Nữ Chân ở vùng đông, và sau đó thông qua chiến tranh hay liên minh đã mở rộng phạm vi loãnh đạo đến tận khu vực Nội Mông ngày nay. Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã thành lập các đội quân lớn và thường trực được gọi là "kỳ" để thay thế các nhóm lính nhỏ mà vốn trước đó chỉ là các thợ săn. Một kỳ bao gồm các nhóm nhỏ hơn; và có khoảng 7.500 chiến binh cùng gia đình của họ, gồm cả lao nô, và nằm dưới quyền chỉ huy của thủ lĩnh. Mỗi kỳ được nhậ biết bới một cờ với các màu sắc khác nhau như vàng, trắng, lam hay đỏ; chỉ có màu trơn hoặc thể hiện ranh giới. Ban đầu chỉ có bốn kỳ, về sau con số này tăng lên tám và được gọi là bát kỳ; các kỳ mới được thành lập khi người Mãn chiếm được một vùng đất mới, và cuối cùng có tổng cộng 24 kỳ chia đều cho 3 tộc là Mãn, MôngHán. Năm 1648, chỉ có dưới một phần sáu binh lính các kỳ thật sự có nguồn gốc Mãn. Các cuộc chinh phục của người Mãn được thực hiện với một đội quân đa sắc tộc do các quý tộc Mãn và tướng người Hán lãnh đạo.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]