Út Trà Ôn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Út Trà Ôn

Nghệ sĩ nhân dân Út Trà Ôn
Sinh 1919
Vĩnh Long
Mất 2001
Thành phố Hồ Chí Minh
Quốc tịch Việt Nam
Lĩnh vực hoạt động nghệ sĩ Cải Lương
Tác phẩm Tình anh bán chiếu, Gánh chè khuya

Út Trà Ôn (1919-2001) là một nghệ sĩ cải lương tài danh. Ông tên thật là Nguyễn Thành Út, tên thường gọi trong gia đình là Mười Út (vì ông là người con thứ mười và cũng là con út). Ông sinh tại ấp Đông Phú, làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn, tỉnh Cửu Long (Vĩnh Long ngày nay).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 16 tuổi, anh thanh niên Mười Út với lòng đam mê nghệ thuật cải lương học hát tại làng quê. Quê hương của ông cũng là một vùng đất nổi tiếng với nghệ thuật cải lương.

Năm 1937, Mười Út được người quen giới thiệu với Đài phát thanh Sài Gòn và từ đó chính thức có nghệ danh Út Trà Ôn. Giọng ca truyền cảm, ấm áp, chân thành, đậm chất miền Tây Nam Bộ của ông được giới thiệu trên làn sóng điện đã nhanh chóng được đông đảo thính giả yêu chuộng. Bản vọng cổ đầu tiên ông ca trên đài là bản: "Thức trót canh thâu". Với niềm đam mê nghệ thuật và khả năng ca diễn xuất sắc, Út Trà ôn thường xuyên góp tiếng hát cho Đài phát thanh, thu âm cho các hãng băng đĩa. Đặc biệt, với giọng ca đặc biệt của mình, ông đã góp phần nâng cao uy tín cho hãng đĩa ASIA với bài vọng cổ "Tôn Tẩn giả điên" gồm có 20 câu, là một sáng tác của một vị Yết-Ma (tu sĩ Phật giáo).

Năm 1942, ông lần lượt biểu diễn cho các gánh cải lương như: Hề Lập, Thanh Long, Tiến Hoá, Mộng Vân, Sao Mai, Thanh Minh...

Năm 1954, Nghệ sĩ Út Trà Ôn lập gánh hát Kim Thanh, đây là lần đầu tiên ông làm bầu một đại bang danh tiếng lừng lẫy lúc bấy giờ và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều nghệ sĩ cao tuổi nhắc đến. Lúc ấy đại bang này có nhiều nghệ sĩ tên tuổi lớn ví dụ như: Thanh Tao, Kim Chưởng, Thuý Nga cùng làm giám đốc.

Năm 1960, Út Trà Ôn cộng tác với đoàn Thủ Đô (chủ nhân của đoàn này là ông Phan Văn Bản và đồng thời là chủ nhân của hãng dĩa Hoành Sơn)

Năm 1962, Út Trà Ôn và người bạn thân là nghệ sĩ Hoàng Giang (cũng là một tên tuổi lớn) lập gánh Thống Nhứt, rồi cộng tác với các đoàn như: Dạ Lý Hương, Thái Dương, Quốc Thanh, Hương Dạ Thảo, Phương Bình, Thanh Hải, Tân Hoa Lan, Kim Chung v.v..

Năm 1975, sau ngày 30-4-1975, ông cộng tác với đoàn cải lương Sài Gòn 1, Trần Hữu Trang và sau đó là Sân Khấu Tài Năng hay còn gọi là đoàn 2-84.

Tháng 3 năm 1997, ông được phong tặng Nghệ sĩ nhân dân.[1] Ông từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh, an táng tại Chùa Nghệ Sĩ, Quận Gò Vấp. Hưởng thọ 82 tuổi

Mộ Út Trà Ôn tại nghĩa trang chùa Nghệ Sĩ, Gò Vấp

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1997: Ông được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân- đợt 4 và huân chương Vì sự nghiệp sân khấu vì những đóng góp của ông cho nghệ thuật cải lương.

Các vai diễn nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Cải lương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông cò Hương / Ông cò quận 9 (trong vở Tuyệt tình ca)
  • Ông Phú (trong vở Nạn con rơi)
  • Tiếng hát Muồng Tênh
  • Kiều Phong A Tỷ
  • Sương khói rừng khuya
  • Quân Vương và Thiếp
  • Lưu Bình Dương Lễ

Các bài vọng cổ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng giọng hát ấm và ngọt, nghệ sỹ Út Trà Ôn nổi tiếng với rất nhiều bài vọng cổ. Ông được khán giả ái mộ với những vở cải lương. Rất nhiều bài Vọng cổ cho đến ngày nay vẫn còn đọng lại ít nhiều ký ức và tình cảm trong lòng người mộ điệu:

  • Gánh chè khuya
  • Ni cô và lão ăn mày
  • Ông lão chèo đò
  • Gánh nước đêm trăng
  • Tôn Tẩn giả điên
  • Tình anh bán Chiếu
  • Tình người phu xe

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Út Trà Ôn và một thời sân khấu”. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]