Đà Lôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đà Lôi với người vợ theo Kitô giáo Sorghaghtani, tranh của Rashid al-Din, đầu thế kỷ 14.

Đà Lôi (tiếng Mông Cổ: ᠲᠥᠯᠦᠢ/Толуй/Тулуй; phiên âm Hán: 拖雷; khoảng 1193 – 1232) là con trai út của Thành Cát Tư Hãn với Quang Hiếu hoàng hậu Börte. Ông không ở ngôi Hãn nhưng là cha của vua hãn quốc Y NhiHúc Liệt Ngột và 2 Hãn của đế quốc Mông CổMông KhaHốt Tất Liệt. Năm Chí Nguyên thứ 3 (1266) con trai ông là Hốt Tất Liệt truy thụy hiệu cho ông là Cảnh Tương hoàng đế, miếu hiệu Duệ Tông.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm 1213 đến 1221, Đà Lôi phò tá Thành Cát Tư Hãn trong các chiến dịch Nam hạ, Tây chinh, chống lại nhà Kimđế chế Khwarezm (Hoa Thích Tử Mô), chỉ huy các lộ quân lập được nhiều chiến công. Đặc biệt, chính ông là người ra chỉ thị trong việc bắt giữ và thảm sát tại Merv.

Khi Thành Cát Tư Hãn phải quyết định ai sẽ là người kế vị thì ông đã rất phân vân giữa việc chọn Đà Lôi hay Oa Khoát Đài. Đà Lôi có một khả năng quân sự tốt và rất thành công trong vai trò của một viên tướng trên chiến trường, nhưng Thành Cát Tư Hãn đã chọn Oa Khoát Đài do ông này lại có khả năng tốt hơn về mặt chính trị. Thành Cát Tư Hãn cũng cảm nhận rằng Đà Lôi có thể là quá thận trọng để có thể trở thành một nhà lãnh đạo có hiệu quả.

Sau khi Thành Cát Tư Hãn chết, Đà Lôi làm Giám quốc,xưng hiệu Dã khả na nhan (chữ Mông Cổ:ᠶᠡᠬᠡ ᠨᠣᠶᠠᠨ; chuyển tự Roman: Yeqe noyan; chuyển tự Cyrill: Их ноён), triệu tập các quý tộc Mông Cổ họp hội nghị Kurultai (phiên âm Hán: 蒙古语, Hốt lý đài) để bàn việc tuyển chọn người kế vị ngôi Khả hãn. Hầu hết các quý tộc Mông Cổ theo truyền thống, đã tôn Đà Lôi làm khả hãn mới. Theo lệ Mông Cổ, con út được kế thừa sản nghiệp của cha, con lớn ra ngoài lập nghiệp, vì vậy, khi Thành Cát Tư Hãn phân phong cho các con, Đà Lôi được thừa kế Hãn quốc Mông Cổ. Ulus (đất đai di sản thừa kế) của ông vào thời điểm năm 1227, là các vùng đất tại Mông Cổ. Quân bản bộ của Thành Cát Tư Hãn bấy giờ là 12,9 vạn thì 10,1 vạn quân tinh nhuệ giao cho Đà Lôi thừa kế. Tuy nhiên, Đà Lôi đã từ chối quyết định này và cùng với anh mình là Sát Hợp Đài (Chagadai) kiên trì làm theo ý nguyện của cha, tôn anh cả Oa Khoát Đài lên ngôi Khả hãn.

Năm 1231, Oa Khoát Đài khởi binh phạt Kim báo thù. Đà Lôi được giao một cánh quân, mượn đường Nam Tống tập kích vu hồi quân Kim từ phía sau, đánh cho quân Kim đại bại. Tuy nhiên, chưa đầy một năm sau, tháng 9 (âm lịch) năm 1232, Đà Lôi ốm nặng và chết ở vùng thảo nguyên Mông Cổ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nguyên sử, Đà Lôi có cả thảy 11 người con trai:

  1. Möngke (Mông Ca), Khả hãn thứ tư của Đế quốc Mông Cổ
  2. Qutughtu (Hốt Đổ Đô)
  3. Khuyết danh
  4. Kublai (Hốt Tất Liệt), Khả hãn thứ năm của Đế quốc Mông Cổ và Hoàng đế khai quốc nhà Nguyên
  5. Khuyết danh
  6. Hulagu (Húc Liệt Ngột), Hãn đầu tiên của hãn quốc Ilkhanate (hãn quốc Y Nhi)
  7. Ariq Böke, (A Lí Bất Ca), người tranh ngôi Khả hãn Mông Cổ với Kublai
  8. Bujek (Bát Xước)
  9. Mukha (Mạc Ca)
  10. Jurikha (Tuế Ca Đô)
  11. Satukhtai (Tiết Biệt Đài)

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời của Đà Lôi quá ngắn ngủi, dù ông có giữ vị trí quan trọng trong việc tôn Oa Khoát Đài lên ngôi Khả hãn, nhưng vẫn không để lại dấu ấn đặc biệt. Có lẽ điều quan trọng nhất là vai trò của gia đình ông trong sự hình thành và phát triển của đế chế Mông Cổ. Với vợ là Sorghaghtani Beki, Đà Lôi đã sinh ra Mông Ca, Hốt Tất Liệt, A Lý Bất CaHúc Liệt Ngột. Như thế ông là tổ tiên của các đại hãn cuối cùng của đế chế Mông Cổ, người sáng lập ra nhà Nguyên tại Trung Quốc (Mông Ca, Hốt Tất Liệt - hai đại hãn của đế chế Mông Cổ và sau này Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên), cũng như của hãn quốc Y Nhi tức Ilkhanate (Húc Liệt Ngột lập ra hãn quốc này).

Sự bất hòa của nhà Đà Lôi và các con trai của Oa Khoát Đài và Truật Xích đã làm trì trệ và gây ra nội chiến ngầm trong các thời kỳ nhiếp chính sau cái chết của Oa Khoát Đài và con trai của ông này là Quý Do.

Tuy nhiên, giữa các con của Đà Lôi cũng xảy ra bất hòa, chẳng hạn giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca, đã làm chia rẽ lực lượng của đế chế và làm cho các hãn quốc ở miền tây chống đối lẫn nhau trong thời kỳ đầu thập niên 1260.

Tiểu thuyết hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đà Lôi được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung.

Trong truyện này, Đà Lôi kết nghĩa an đáp (kết nghĩa huynh đệ) với nhân vật chính Quách Tĩnh. Ông cũng là người đầu tiên đem quân tấn công thành Tương Dương nhưng do Thành Cát Tư Hãn đột nhiên ốm nặng nên đành rút quân về.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đà Lôi
Nhà Borjigin (1206–1402)
Sinh: khoảng 1190 Mất: 1232
Hiệu
Tiền vị:
Thành Cát Tư Hãn
Nhiếp chính của Đế quốc Mông Cổ
1227–1229
Kế vị
Oa Khoát Đài
Sửa Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)