An Toàn hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đàm hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
An Toàn hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
Dam hoang hau.jpg
Nghệ sĩ Nhân dân Lan Hương đóng vai Đàm hoàng hậu trong phim Thái sư Trần Thủ Độ
Hoàng hậu nhà Lý
Tại vị 1194 - 1210
Tiền nhiệm Chiêu Linh Chí Hiếu hoàng hậu
Kế nhiệm Trần Thị Dung
Hoàng thái hậu nhà Lý
Tại vị 1210 - 1226
Tiền nhiệm Chiêu Linh thái hậu
Linh Đạo thái hậu
Kế nhiệm Hoàng thái hậu cuối cùng nhà Lý
Thông tin chung
Phu quân Lý Cao Tông
Hậu duệ Lý Huệ Tông
2 công chúa không rõ tên
Tước hiệu An Toàn nguyên phi
An Toàn hoàng hậu
Đàm Thái hậu
Thụy hiệu An Toàn Cao Tông hoàng hậu
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Đàm Thì Phụng

An Toàn hoàng hậu, họ Đàm, là một Hoàng hậu, Hoàng thái hậu nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Bà là vợ vua Lý Cao Tông, mẹ vua Lý Huệ Tông.

Thái hậu dựa vào vị trí ngoại thích, can thiệp triều cương, ngoại thích Đàm Dĩ Mông lại không có thực lực, chính sự càng suy. Chèn ép con dâu là Trần Thị Dung vì bà rất ghét Trần Tự Khánh, nghi là mưu đoạt vương triều Lý. Phu nhân phải khổ sở, Huệ Tông không đành lòng, đang đêm ra cầu cứu Tự Khánh, thời cơ của nhà Trần lập nghiệp là từ đây.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là con gái của tướng quân Đàm Thì Phụng, có em trai là Đàm Dĩ Mông, sau này được cất nhắc thành đại thần trong triều.

Hoàng hậu nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1186, bà được Lý Cao Tông sách phong làm An Toàn nguyên phi.

Tháng 7 năm 1194, bà sinh ra Hoàng thái tử Lý Sảm, tức vua Lý Huệ Tông sau này, cùng lúc đó bà được phong làm An Toàn hoàng hậu.

Hoàng Thái hậu nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1210, Cao Tông mất, Huệ Tông lên ngôi, bà được tôn làm Hoàng thái hậu, sử sách thường gọi bà là Đàm thái hậu. Đàm thái hậu đăng đàn, cùng nghe chính sự, lại phong em trai là Dĩ Mông làm Thái sư, cùng Thái hậu trông coi triều chính, Huệ Tông không can dự vào.

Đàm Dĩ Mông là người không có học thức, lại nhu nhược không quyết đoán, mọi việc do Đàm Thái hậu quyết định, chính sự bất ổn.

Mưu trừ Trần Tự Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Lý suy yếu, trong nước nổi lên 3 thế lực lớn là Đoàn Thượng chiếm cứ Hồng Châu, Trần Tự Khánh chiếm cứ Thái Bình, Nam ĐịnhHưng YênNguyễn Nộn chiếm cứ Quốc Oai. Ba thế lực đánh phá lẫn nhau, khiến triều đình nhà Lý lung lay, phải tìm thế lực nhờ cậy.

Các triều thần sợ họ Trần, do có liên quan đến quyền thần Tô Trung Từ đã bị giết, bèn nhờ cậy họ Đoàn. Đoàn Thượng đem quân đánh họ Trần, Trần Tự Khánh liên kết cùng Nguyễn Tự đánh trả lại. Huệ Tông bèn phải phong Tự Khánh tước Hầu.

Bấy giờ Huệ Tông thấy thế lực họ Trần mạnh lên, bèn truyền cho văn võ bá quan đều phải nghe mệnh lệnh Trần Tự Khánh. Mặt khác, Huệ Tông lại cùng với Đàm thái hậu và một số cận thần vẫn ngầm mưu diệt họ Trần.

Đầu năm 1213, thái hậu sai người đi với bọn tướng sĩ ở đạo Phù Lạc và đạo Bắc Giang, hẹn ngày cùng phát binh đánh Tự Khánh. Đúng ngày đã định, các tướng Phan Thế ở Phù Lạc, Ngô Mãi ở Bắc Giang tiến đến cửa Đại Hưng (cửa nam thành Thăng Long). Tự Khánh đang ở bến Đại Thông, nghe tin đó liền kéo quân lên kinh sư, vào cấm thành, đốt cầu Ngoạn Thiềm rồi lại trở về Đại Thông.

Sau khi chiếm được đồng bằng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy (trừ miền Đại Hoàng), Tự Khánh phát triển thế lực lên Quốc Oai. Vùng Quốc Oai vốn thuộc phạm vi kiểm soát của Nguyễn Tự. Khi đó Tự chết, phó tướng là Nguyễn Cuộc thay thế. Tự Khánh tiến quân lên Quốc Oai, dụ hàng được Nguyễn Cuộc, thanh thế thêm mạnh.

Chạy về châu Lạng[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Huệ Tông bèn cùng thái sư Đàm Dĩ Mông tự làm tướng, hẹn với quân Hồng châu đi đánh Tự Khánh, đến Mễ Sở gặp quân của họ Trần do Vương Lê, Nguyễn Cải chỉ huy. Hai bên chưa giao chiến, quân của Lê, Cải mới hò reo tiến lên, quân triều đình đã tự tan vỡ. Vương Lê, Nguyễn Cải bắt được thuyền rồng. Cánh quân đạo Bắc Giang do thái sư Đàm Dĩ Mông thống xuất tới bến An Diên (Thường Tín, Hà Tây) thì bị quân của Trần Thừa tiến đánh.

Em họ Trần Tự Khánh là Trần Thủ Độ cùng Trần Hiến Sâm ở tả ngạn cũng tiến đánh thắng quân triều đình. Các tướng họ Trần khác là Phan Lân, Nguyễn Nộn từ Quốc Oai tiến đến chợ Dừa đánh thắng các tướng ở Hồng châu là Đoàn Cấm, Vũ Hốt. Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu.

Tự Khánh chiếm được kinh đô. Vài ngày sau, ông sai người đem thư lên Lạng Châu gặp Huệ Tông và nói rõ ý mình rằng:

"Dân tình uất ức, không thấu được lên trên. Cho nên, nhân lòng giận dữ của người trong nước, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc họa, để yên lòng dân mà thôi. Đến như thân phận vua tôi, thần không dám phạm đến một chút nào. Ngờ đâu, phải gánh lấy tội chuyên quyền đánh dẹp, để khiến cho xa giá phải long đong, tự xét tội của thần thật đáng vạn lần chết. Xin bệ hạ nguôi cơn giận dữ, quay xa giá về kinh sư để thỏa lòng người mong muốn"

Nhưng vua Huệ Tông từ chối không theo Tự Khánh. Tự Khánh không đón được Huệ Tông, bèn lập vua mới Huệ Văn vương, con của Lý Anh Tông.

Mưu trừ con dâu[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ việc của Trần Tự Khánh làm Đàm thái hậu dè chừng Tự Khánh là phản trắc, mắng nhiếc Trần thị hiện đang là Nguyên phi, xui Huệ Tông giáng Trần thị làm Ngự nữ.

Dầu vậy, Bính Tí năm thứ 6 (1216), Trần thị lại được phong làm Thuận Trinh phu nhân.

Nhiều lần Thái hậu mắng Trần phu nhân là giặc, sai Huệ Tông đuổi bỏ đi. Bà còn sai người lén bỏ thuốc độc vào bữa cơm của con dâu, Huệ Tông biết ý, chia nhỏ bữa ăn của mình và không cho rời khỏi mình.

Tháng 4 năm 1216, lại xảy ra loạn lạc khác: các tướng ở Cảo Xã (Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) là Đỗ Át, Đỗ Nhuế chống lại triều đình. Vua Huệ Tông dựa vào Lý Bát, sai Bát đánh lại, nhưng không thắng. Trước tình thế đó, Huệ Tông đành lại quay về nương nhờ anh em họ Trần. Trần Tự Khánh sai bộ tướng Vương Lê đem thủy quân đi đón Huệ Tông sang Cứu Liên.

Khi đó trong triều, Đàm Thái hậu ngày ngày muốn giết Trần Thị Dung, sai người cầm chén thuốc độc bắt phu nhân phải chết. Huệ Tông ngăn lại không cho, rồi đêm ấy cùng với phu nhân lẻn đi đến chỗ quân của Tự Khánh; gặp khi trời đã sáng, phải nghỉ lại ở nhà tướng quân Lê Mịch ở huyện Yên Duyên, gặp tướng của Tự Khánh là Vương Lê đem binh thuyền đến đón. Vua mới đỗ lại ở bãi Cứu Liên và truyền cho Tự Khánh đến chầu.

Tự Khánh đón được Huệ Tông, bèn phế Nguyên vương mà mình từng đưa lên ngôi.

Tháng 12 năm 1216, Thuận Trinh phu nhân Trần Thị Dung được phong làm Hoàng hậu.

Từ lúc đó, anh em, thân thuộc họ Trần chiếm hết các chức văn võ quan trọng trong triều: Tự Khánh làm thái úy, khi xướng lễ không phải gọi tên; Trần Thừa được phong tước Liệt hầu làm nội thị phán thủ; Trần Liễu (con cả Trần Thừa), Phùng Tá ChuLại Linh được tước Quan nội hầu; con cả Tự Khánh là Trần Hải được phong tước vương. Nắm quyền lớn trong tay, Trần Tự Khánh quyết ý đánh dẹp Bắc Giang vương Nguyễn Nộn, Hiền Tín vương Lý Bát, Hồng hầu Đoàn Văn Lôi, Hà CaoQuy Hóa.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Huệ Tông trúng bệnh, hóa điên, triều chính rơi vào tay họ Trần. Ông truyền ngôi cho con gái là Chiêu Thánh công chúa, tức Lý Chiêu Hoàng; rồi xuất gia ở chùa Phù Liệt.

Năm Ất Dậu (1225), bà cùng vua ra ở nơi chùa Phù Liệt xuất gia. Năm sau (1226), Huệ Tông bị Trần Thủ Độ sát hại.

Lý Chiêu Hoàng do dàn xếp của Trần Thủ Độ, kết hôn với Trần Cảnh; sau lại nhường ngôi cho Cảnh, lập nên nhà Trần. Không rõ Đàm thái hậu mất năm nào.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

An Toàn hoàng hậu
Tước hiệu
Tiền vị:
Chiêu Linh Chí Hiếu hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
1194-1210
Kế vị
Trần Thị Dung