Đá ngầm Gageo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thực thể địa lí tranh chấp
Đá ngầm Gageo
Vị trí đá ngầm Gageo
Vị trí đá ngầm Gageo
Địa lý
Vị trí Hoàng Hải
Tọa độ 34°00′41″B 124°53′19″Đ / 34,01139°B 124,88861°Đ / 34.01139; 124.88861 (đá ngầm Gageo)Tọa độ: 34°00′41″B 124°53′19″Đ / 34,01139°B 124,88861°Đ / 34.01139; 124.88861 (đá ngầm Gageo)
Quốc gia quản lý  Hàn Quốc
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Hàn Quốc

Quốc gia

 Trung Quốc

Đá ngầm Gageo (tiếng Triều Tiên: 가거초, Gageocho; tiếng Trung: 日向礁; bính âm: Rìxiàng Jiāo; Hán-Việt: Nhật Hướng tiêu) là đá ngầmHoàng Hải, cách đảo Gageo của Hàn Quốc 47 km về phía tây.[1] Hải vực lân cận đá ngầm Gageo sâu bình quân 75 m,[2] nơi nông nhất sâu 7,8 m.[2][3] Đo ở độ sâu 40 m thì chiều rộng bắc-nam là 600 m, chiều dài đông-tây là 750 m, bao phủ diện tích 380.000 m².[1]

Hàn Quốc đặt đá ngầm này vào huyện Sinan, tỉnh Jeolla Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 3 năm 1927, thiết giáp hạm Hyūga (日向, Nhật Hướng) của Nhật Bản đâm vào đá ngầm Gageo. Sau khi tìm thấy nguyên nhân gây tai nạn, Hải quân Nhật đã đặt tên cho đá ngầm là Hyūga shou (đá ngầm Hyūga) theo tên chiến hạm.[4] Sau này, Hàn Quốc đổi tên nó thành Gageo (Hán-Việt: Khả Cư, tạm dịch "có thể ở được").

Tranh chấp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo UNCLOS thì các quốc gia không thể đòi hỏi chủ quyền đối với đá ngầm.[5] Hiện Hàn QuốcTrung Quốc có tranh chấp ở Gageo do hai quốc gia đều xem nó thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình. Theo Hàn Quốc, xét theo nguyên tắc đường trung tuyến thì đá ngầm nằm bên phía họ.[1]

Tháng 11 năm 2007, Hàn Quốc khởi công công trình trạm nghiên cứu hải dương và khí quyển hiện đại nằm gần đá ngầm này.[1] Công trình được khánh thành vào tháng 10 năm 2009, tiêu tốn 10 tỷ won. Nó cao 51 m (trong đó có 26 m nổi trên mặt biển), diện tích 286 m², có khả năng chịu được sóng cao 21 m và chịu sức gió đến 40 m/s.[1] Cơ sở có phòng thí nghiệm, chỗ ở, thiết bị thông tin và quan sát, máy phát điện, đèn hiệu an toàn hàng hải, bồn chứa nước và nhiên liệu, hệ thống cảnh báo. Bốn người có thể sống 15 ngày tại đây mà không cần tiếp tế.[2] Trước đó vào năm 2003 Hàn Quốc đã có một cơ sở nghiên cứu hải dương tương tự (nhưng gấp bốn lần về quy mô) ở đá ngầm Socotra vốn cũng nằm trong vòng tranh chấp Hàn-Trung.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “가거초 해양과학기지” (bằng tiếng Triều Tiên). KBS World. 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập 2 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ a ă â “Introduction of research project” (bằng tiếng Anh). Viện Khoa học đại dương và Công nghệ Hàn Quốc. Truy cập 2 tháng 12 năm 2013. 
  3. ^ Haeyang Susanbu, Kungnip Haeyang Chosawŏn (2006). Undersea feature names in the Republic of Korea. Viện Nghiên cứu Hải dương học Quốc gia (Hàn Quốc). tr. 32. 
  4. ^ “일본명 암초 80년 만에 국적 찾아” (bằng tiếng Triều Tiên). 6 tháng 2 năm 2007. Truy cập 2 tháng 12 năm 2013. 
  5. ^ Guo, Rongxing (2006). Territorial Disputes and Resource Management: A Global Handbook. Nova Publishers. tr. 226. ISBN 9781600214455.