Đám tang người Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lễ động quan trong đám tang vua Khải Định năm 1925. Gia quyến mặc tang phục màu trắng, có đoàn thổi kèn giải và đánh đàn.

Đám tang hay đám ma, lễ tang, tang lễ, tang ma là một trong những phong tục của Việt Nam. Bao gồm nhiều quy trình của những người đang sống thực hiện đối với người vừa chết

Phong tục Tang Lễ được tổ chức khác nhau ở các dân tộc trên Việt Nam, mỗi một dân tộc có những nghi lễ tổ chức khác nhau mặc dù không nhiều nhưng đều có những bước cơ bản tương đối giống nhau ở các người Kinh cũng như các dân tộc thiểu số khác. Thậm chí trong tang lễ ngày nay có những điểm khác so với thời kỳ từ thế kỷ 20 trở về trước.

Công việc sơ khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với những trường hợp người gần chết, người thân có thể phán đoán biết trước thì việc đầu tiên là hỏi xem người gần chết có trăn trối những gì, những lời nhắn nhủ lúc này được gọi là di ngôn, hỏi người đó có tự đặt lấy tên thụy (hay còn gọi là tên hèm) tức là tên sau này để khấn khi cúng cơm nên còn được gọi là tên cúng cơm.[1] Kế tiếp dùng nước ngũ vị hương[2][3] lau sạch sẽ thân người, thay đổi quần áo tươm tất. Khi người đó tắt hơi rồi, lấy chiếc đũa để ngang hàm gọi là cài hàm để cho răng khỏi nghiến vào nhau [1], sau bỏ một vốc gạo và ba đồng tiền vào miệng, nhà giàu thì thường dùng ba miếng vàng sống, đây được gọi là ngậm hàm[4] hoặc phạn hàm.[5]

Trùng tang[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn rước linh cữu vua Khải Định, dẫn đầu là phường tuồng để trừ tà dọc đường.

Theo phong tục, ngày giờ người chết vừa tắt thở phải nhớ chính xác để đem cho thầy tự xem có bị rơi vào giờ trùng tang hoặc bị quỷ tinh ám ảnh hay không. Nếu gặp ngày giờ xấu thì phải nhờ thầy dùng bùa để tống xuất, lá bùa này được dán trên quan tài và cho vào những vỏ ốc chôn ở bốn phía ngôi mộ,[6] hoặc bỏ vào quan tài một cỗ bài tổ tôm, quyển lịch Tàu hay lịch ta, tàu lá gói để trấn áp ma quỷ,[4] hoặc khi đem chôn thì có một phường tuồng đóng vai thiên thần đi trước đám tang múa thành những đạo bùa yểm để trừ tà ma ở dọc đường hoặc ở mộ huyệt (trường hợp này mộ huyệt phải đào tam cấp).[7]

Hạ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đưa người vừa mất xuống chiếu trải dưới đất 1 chốc rồi đưa lên lại, lấy nghĩa người bởi đất sinh ra thì khi chết lại về với đất[4] (nhân sinh ư thổ, diệc hoàn ư thổ) hoặc để lấy đủ âm dương cho người chết[8], hoặc hy vọng rằng việc này có thể hoàn sinh khí cho người đã mất.[9]

Cáo phó[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cáo phó

Cáo phó là thông báo về tang lễ thường được đặt trước cổng tang gia hoặc gửi đến từng người thân thích.[10] Ngày nay có thể đăng cáo phó trên các phương tiện truyền thông hoặc gọi điện thoại báo tin. Trên cáo phó phải ghi rõ tên người chết, ngày sinh và mất, và chi tiết về tang lễ như thời gian địa điểm làm lễ nhập quan và di quan...

Khâm niệm và nhập quan[sửa | sửa mã nguồn]

Khâm liệm là dùng vải để quấn người chết, thường thì người nhà dùng vải thường trắng (đối với gia đình khá giả dùng vải tơ lụa) may làm đại liệm, tiểu liệm.[4] Sau khi liệm xong, những người thân đứng quanh quan tài, nâng người chết bằng 4 góc của tấm vải tạ quan và đặt vào quan tài gọi là nhập quan. Trên quan tài đặt 1 chén cơm úp (2 chén cơm úp thành 1), trên có cắm đôi đũa và quả trứng gà luộc gọi là cơm bông, xưa có tục cướp cơm bông để cho trẻ ăn để phòng bệnh[11], quan tài phải quay đầu ra ngoài.[12]

Thiết linh sàng, linh tọa[sửa | sửa mã nguồn]

Linh sàng là giường của linh hồn, thường được lập ở phía đông, có quây màn và để gối như lúc sống.[7][13] Linh tọa là bàn thờ đặt trước linh cữu, giữa linh tọa đặt bài vị bằng nan tre ghi họ tên hoặc ảnh người chết, 2 bên có đèn nến, trước có bát nhang, rượu và mâm ngũ quả.[14]

Tang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Tục lệ xưa sau khi chết 4 ngày thì con cháu mới mặc đồ tang gọi là lễ thành phục. Tang phục được quy định như sau:[15][16]

  • Con trai: đội mũ rơm quấn bẹ chuối, áo sô gai, cầm gậy (cha mất thì gậy tre, mẹ mất thì gậy vông vì quan niệm là công cha nặng hơn nghĩa mẹ).
  • Con dâu, con gái: áo sô gai, thắt lưng bện bằng bẹ chuối, áo xổ gấu hoặc không (tùy theo cha còn hay mẹ còn, con gái còn ở nhà hay đã xuất giá), đầu chít khăn tang.
  • Cháu nội: đội mũ mấn, khăn trắng, mặc áo thụng trắng.[17]
  • Con rể, anh em trai: mặc áo thụng trắng.
  • Chị em gái: quấn vặn khăn trắng với tóc.

Ngoài ra, theo Quốc triều Hình luật có quy định cách thức mặc đồ tang và thời gian để tang (Hoàng Việt luật lệ về sau cũng không thay đổi), như sau:[18]

Năm hạng áo tang Hình thức
Trảm thôi (đại tang) Tang 3 năm, áo vải sô rất xấu, không khâu gấu.
Tư thôi (cơ niên) Tang 1 năm có chống gậy, 1 năm không chống gậy, 5 tháng, 3 tháng; áo may vải sô gai có khâu gấu.
Đại công Tang 9 tháng, áo may vải to sợi.
Tiểu công Tang 5 tháng, áo may vải to sợi.
Ty ma Tang 3 tháng.
Một số thời hạn để tang đối với những người có quan hệ gần
Quan hệ Thời hạn để tang
Cố ông/bà Tư thôi, 3 tháng
Cụ ông/bà Tư thôi, 5 tháng
Ông, bà Tư thôi, không phải chống gậy thì 1 năm
Cha, mẹ Trảm thôi, 3 năm
Chú, bác, thím Tang 1 năm
Cô ruột Cô còn ở nhà: tang 1 năm; lấy chồng: tang 9 tháng
Anh em ruột Tang 1 năm
Chị em dâu Tang 9 tháng
Anh em chú bác Tang 9 tháng
Chị em ruột Còn ở nhà: tang 1 năm; lấy chồng: tang 9 tháng
Chị em chú bác Ở nhà: tang 9 tháng; lấy chồng: tang 5 tháng
Con trai trưởng [19]
Con dâu trưởng Tang 1 năm
Con trai thứ Tang 1 năm
Con dâu thứ Tang 9 tháng

Quốc triều Hình luật không quy định việc để tang đối với bên ngoại và một số mối quan hệ khác, tuy nhiên người dân vẫn dựa theo Thọ Mai gia lễ để chịu tang, cụ thể một số trường hợp sau:[20][21]

Quan hệ Thời hạn để tang
Cháu ngoại Ông bà ngoại để tang 3 tháng; cháu dâu, cháu gái đã có chồng: không để tang
Cậu, dì (anh chị em ruột với mẹ) Tang 5 tháng
Mợ (vợ cậu), dượng (chồng dì) Không để tang
Cháu (gọi người để tang bằng cậu) Cậu để tang 5 tháng
Cha mẹ vợ Tang 1 năm, ngoài ra con rể không phải để tang một người nào khác bên vợ
Chồng Trảm thôi, 3 năm
Vợ Tang 1 năm
Vợ kế Nếu có con: tang 9 tháng; không có con: tang 5 tháng
Con rể Tang 3 tháng

Phúng điếu[sửa | sửa mã nguồn]

Phúng điếu là sự thăm hỏi, giúp đỡ bằng hình thức tiền bạc, nhang đèn hoặc hoa quả, liễn, văn điếu... Theo tục lệ thì khi chưa mặc tang phục thì không được tiếp khách đến phúng điếu. Khi khách phúng điếu vái lạy người chết thì tang gia phải lạy trả lễ một nửa số vái.[22][23] Ngày nay có 1 số gia đình không nhận tiền phúng điếu, việc này được ghi rõ trên cáo phó.

Thổi kèn giải[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những ngày còn quan tài trong nhà, gia chủ thường mời những ban nhạc đến thổi kèn, sáo, đánh đàn, trống.[17] Ngày nay, có thêm những ban kèn tây, đàn guitar, đàn ca tài tử cải lương, hoặc mời cả ban nhạc đồng tính luyến ái đến hát.[24][25][26]

Di quan[sửa | sửa mã nguồn]

Chọn đất làm huyệt mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyển cửu[sửa | sửa mã nguồn]

Nghi trượng đi đường[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trạm[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Huyệt[sửa | sửa mã nguồn]

Những việc sau khi chôn[sửa | sửa mã nguồn]

Viếng mộ đắp mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuần chung thất hay còn gọi là tứ cửu tức (49 ngày)[sửa | sửa mã nguồn]

Tuần Tốt khốc (100 ngày)[sửa | sửa mã nguồn]

Giỗ đầu (Tiểu tường)[sửa | sửa mã nguồn]

Hết tang (Đại tường)[sửa | sửa mã nguồn]

Những thay đổi trong Tang lễ người Việt ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tang lễ tại nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Tang lễ tại nhà Tang Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Những điểm khác khi tổ chức tang lễ theo ảnh hưởng tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tang lễ có ảnh hưởng Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tang lễ có ảnh hưởng Thiên Chúa giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tang lễ có ảnh hưởng tôn giáo khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bùi Xuân Mỹ (2001). Tục thờ cúng của người Việt. Văn hóa thông tin. 
  • Vũ Hi Tô (1927). Thọ Mai gia lễ diễn nghĩa. Sử-Văn-Đường. 
  • Phan Kế Bính (2006). Việt Nam phong tục. Văn học. 
  • Cửu Long Giang & Toan Ánh (1967). Người Việt đất Việt. Nam Chi Tùng Thư. 
  • Nhất Thanh (1970). Đất lề quê thói. Đường Sáng. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Bùi Xuân Mỹ, tr. 57
  2. ^ Vũ Hi Tô, tr. 4, Ngũ vị hương gồm lá thông, lá quýt, lá bạch đàn, lá mộc hoàn và lá đỗ
  3. ^ Vũ Hi Tô, tr. 3
  4. ^ a ă â b Phan Kế Bính, tr. 28
  5. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 62
  6. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 58
  7. ^ a ă Cửu Long Giang & Toan Ánh, tr. 320 - 321
  8. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 59
  9. ^ Cửu Long Giang & Toan Ánh, tr. 319
  10. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 64
  11. ^ Cửu Long Giang & Toan Ánh, tr. 315
  12. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 68-70
  13. ^ Vũ Hi Tô, tr. 9
  14. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 71
  15. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 78
  16. ^ Vũ Hi Tô, tr. 12 -15
  17. ^ a ă Phan Kế Bính, tr. 29
  18. ^ Nhất Thanh, tr. 455-459
  19. ^ Quốc triều hình luật bản chữ Hán và bản dịch của Trường Đại học Luật khoa Saigon, 1956 có chép con trai trưởng, cháu trai trưởng gọi bằng ông, cháu dâu trưởng, chắt trai, chắt dâu, mà không ghi rõ thời hạn để tang. Nếu so sánh với thời hạn để tang của các bậc tương đương ta có thể ước tính được.
  20. ^ Nhất Thanh, tr. 460-461
  21. ^ Vũ Hi Tô, tr. 36-49
  22. ^ Bùi Xuân Mỹ, tr. 79-80
  23. ^ Vũ Hi Tô, tr. 16-17
  24. ^ “Sửng sốt với đám ma "vui" hơn đám cưới ở VN”. 23/08/2011. 
  25. ^ “Pêđê hát đám ma: Quái gở và tục tĩu”. 14/11/2007. 
  26. ^ “Pê đê đi hát đám ma, sinh nhật: “Mua vui” và “bán dâm””. 26/06/2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]