Đèo Cả

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đèo Cả là một trong những đèo lớn và hiểm trở tại miền Trung Việt Nam [1]. Đèo cao 333 m, dài 12 km[2], cắt ngang qua dãy núi Đại Lãnh ở chỗ giáp ranh của hai tỉnh Phú Yên (huyện Đông Hòa) và Khánh Hòa (huyện Vạn Ninh), trên Quốc lộ 1A [3].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là ranh giới giữa Đại ViệtChiêm Thành từ năm 1471 đến 1653. Trong cuộc nam tiến của Đại Việt, địa thế hiểm trở của khu vực đã khiến vua Lê Thánh Tông dừng chân tại đây năm 1471. Sau đó, vua Lê Thánh Tông đã tạo một tiểu vương quốc tại Phú Yên làm vùng đệm tên là Hoa Anh. Vì là vị trí ranh giới, nhiều cuộc xung đột giữa Đại Việt và Chiêm Thành đã xảy ra tại đây [4]

Vào những năm 1771-1802, nhiều cuộc giao chiến giữa chúa Nguyễn Ánh và anh em nhà Tây Sơn cũng đã xảy ra tại đây. Trong tháng 1 năm 1947, đèo Cả trở thành chiến trường giữa quân PhápViệt Minh.

Tên "Đèo Cả" có khi Pháp đang xây Quốc lộ 1A. Trước đó đường Thiên Lý nằm phía tây của đường Đèo Cả. Hiện đang có kế hoạch xây dựng hầm đường bộ Đèo Cả để việc đi lại trên quốc lộ 1A không còn phải vượt qua đường đèo hiểm trở này [5]

Nơi đây, trên đèo Cả thời Pháp thuộc có một trạm Phú Hoà do Nam triều xây dựng như một trạm dịch để lưu chuyển văn thư, vận tải lương thực, cáng, võng các quan chức hành chánh địa phương mỗi khi có công vụ. Sau này Pháp cho xây một bót tên Poste Petitte (Bót Bê Tí) để kiểm soát về mặt quân sự. Năm 1997 ranh giới giữa hai tỉnh Phú Yên-Khánh Hoà được phân chia từ chân Đá Đen kéo dài theo đường phân thuỷ đến đỉnh Hòn Nưa. Và Vũng Rô thuộc địa phận Phú Yên.

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Thời tiết ở đây nhiều mưa và nhiều mây, tạo ra nhiều thực vật đặt biệt. Trước kia, khu này là một nơi sản xuất trầm hươngkỳ nam nổi tiếng. Nay vẫn còn nhiều cây quý mọc tại đây như cẩm, thị, sao, chò, dầu, kiền kiền, và đát. Cây đát được dùng trong món chè trái cây nổi tiếng ở Nha Trang.

Tên gọi:[sửa | sửa mã nguồn]

Trong dân gian, đèo Cả còn có tên gọi là đèo Cục Kịch. Tìm hiểu tên gọi Cục Kịch là do trước đây, khi đèo mới mở để thông thương giữa phía Bắc và phía Nam thì đèo chỉ trải lớp đá, lên xuống gập ghềnh và có đến 98 vòng cua rộng hẹp, gấp khúc. Cả người đi bộ, gánh gồng, xe ngựa, xe trâu kéo bằng bánh gỗ nghiến lên lớp đã trải kêu lục cục, dằn xóc lịch kịch nên mới có tên gọi trên.

Trong số 98 vòng cua trên có đến 10 vòng cua gấp khúc nguy hiểm. Vòng cua nguy hiểm nhất là vòng cua cánh chỏ ở mỏm Đá Đen: phía trên là tảng đá màu đen tuyền dựng đứng, sừng sững như một bức tường khổng lồ, đường đèo chạy men theo sát bờ biển là một vực sâu hoắm. Đứng trên nhìn xuống thấy dòng nước sâu thăm thẳm.

Trong văn học:[sửa | sửa mã nguồn]

Đèo Cả đã được dân gian cảm tác thành những khúc dân ca mượt mà, như một nhân chứng cho những cuộc tình  duyên tốt đẹp lẫn khổ đau:

Trèo lên đèo Cả

Ngó xuống Vạn Gĩa, Tu Bông

Biết rằng cha mẹ đành không

Chàng chờ, thiếp đợi uổng công hai đàng.

Cũng từ những cảm hứng thơ ca dân gian, nhà văn Y Uyên đã trích dẫn câu ca dao dẫn tựa cho cuốn tiểu thuyết Ngựa Tía mô tả một giai đoạn chiến tranh bi hùng của dân tộc:

Con ngựa Tía ăn quanh đèo Cả

Vầng nguyệt đêm rằm bóng ngả về không…

Đèo Cả cũng từng là địa điểm dừng quân của đoàn quân Nam tiến thời chống Pháp với nhiều văn nghệ sĩ tham gia: Trần Mai Ninh, Hữu Loan… để lại những dấu ấn đậm nét trong văn học, nhất là bài thơ đèo Cả nổi tiếng của Hữu Loan:

Đèo Cả!

Đèo Cả!

Núi cao ngút!

Mây trời Ai Lao

Sầu đại dương!

Dặm về heo hút

Đá Bia mù sương…                                                             

Trước cảnh nước non hùng vĩ, thiên nhiên hữu tình… những áng thơ văn vẫn còn lắng đọng mãi mãi với thời gian trong tâm thức mọi người. Nhưng quan trọng hơn cả, dãy Đại Lãnh còn được triều đại nhà Nguyễn cho chạm khắc vào Tuyên Đỉnh trong hệ thống Cửu Đỉnh đặt trước sân Thái Miếu ở Hoàng Thành Huế vào năm Bính Thân (1836) đời vua Minh Mạng. Từ năm 1840, núi Đại Lãnh còn được chuẩn định tế lễ 1 trâu và 1 heo

Nguồn: baophuyen.com

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam đất nước giàu đẹp (tập 2). Nxb Sự thật, 1983, tr. 258.
  2. ^ “Đèo cả”. 
  3. ^ Nguyễn Dược-Trung Hải, Sổ tay địa danh Việt Nam. (Nxb Giáo dục, 2008, tr. 81). Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam ghi độ cao và chiều dài đèo Cả cũng giống như thế [1].
  4. ^ Xem
  5. ^ [2].

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]