Đông Equatoria

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đông Equatoria
شرق الاستوائية
Sharq al-'Istiwa'iyah
—  Bang  —
Vị trí tại Nam Sudan.
Vị trí tại Nam Sudan.
Tọa độ: 4°45′B 33°11′Đ / 4,75°B 33,183°Đ / 4.750; 33.183Tọa độ: 4°45′B 33°11′Đ / 4,75°B 33,183°Đ / 4.750; 33.183
Quốc gia  South Sudan
Vùng Equatoria
Số quận:
Capital Torit
Diện tích
 - Tổng cộng 82.542 km² (31.869,6 mi²)
Dân số (2008)
 - Tổng cộng 906.126
Múi giờ EAT (UTC+3)

Đông Equatoria (tiếng Anh: Eastern Equatoria, tiếng Ả Rập: شرق الاستوائية; Chuyển tự Ả Rập: Sharq al-'Istiwa'iyah) là một trong 10 bang của Nam Sudan. Diện tích của bang là 82.542 km². Thủ phủ là Torit.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bang có biên giới quốc tế với Uganda ở phía nam, với Kenya ở phía nam-đông và với Ethiopia ở phía bắc-đông. Trong nước, bang có ranh giới với Trung Equatoria ở phía tây và Jonglei ở phía bắc. Tam giác Ilemi ở phía đông, giữa Đông Equatoria và Hồ Turkana, là nơi tranh chấp giữa ba nước (Nam Sudan, Kenya và Ethiopia).

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ công ăn mừng hiệp ước hòa bình tại Kapoeta, Đông Equatoria

Đông Equatoria là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân tộc khác nhau. Người Toposa, người Giengười Nyangathom sống tại quận Kapeota ở phía đông của bang. Người Didinga, người Dodosngười Boya sống ở quận Budi xung quanh Chukudum. Xa hơn về phía tây, các quận Lafon, Torit và Ikotos là nơi sinh sống của người Otuho, người Lopits, người Lango, người Pari, và người Tenet vốn định cư tại một phần của vùng đồi Lopit sau khi họ chia tách từ người Didinga và Murle đầu thế kỷ 19 và người Lokoya của Lowoi. Người Acholi, người Madi, người Iriyengười Ofiriha sống tại cực tây của quận Magwi.[1]

Hầu hết cư dân Đông Equatoria sống nhờ trồng trọt và chăn nuôi gia súc như cừu và dê và sử dụng sản vật địa phương. Vùng đồi Didinga tại quận Buda có đất đai phì nhiêuđược dùng để trồng cây thuốc lá, khoai tây, ngô.[1]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Eastern Equatoria map.svg

Đông Equatoria, giống như các bang khác tại Nam Sudan, được chia thành các quận. Các quận được tiếp tục chia thành Payams, sau đó là Bomas. Mỗi quận chịu sự lãnh đạo của Ủy viên Hội đồng của quận, do Tổng thống Salva Kiir Mayardit của Nam Sudan bổ nhiệm.

Các quận và người đứng đầu:[2]

Quận Thủ phủ Tổng ủy viên
Torit Torit Felix Otuduha Siro
Lafon Lafon Caesar Oromo Urbano
Magwi Magwi Peter Ochilo
Ikotos Ikotos Peter Lokeng Lotone
Budi Chukudum Joseph Napengiro Lokolong
Kapoeta Bắc Riwoto Lokai Iko Loteyo
Kapoeta Nam Kapoeta Martin Lorika Lojam
Kapoeta Đông Narus Titos Lokwacuma Loteam

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Focus On South: Facts About Eastern Equatoria State”. Sudan Vision Daily. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ “Eastern Equatoria State”. Gurtong. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]