Doraemon (phim)
| Bài viết này có chứa các ký tự Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Nhật Bản. |
| Đôrêmon | |
|---|---|
Biểu trưng của phim trong giai đoạn 2005 đến nay |
|
| Định dạng | Phim hoạt hình |
| Sáng lập | Nippon Television (1973) TV Asahi (1979-nay) |
| Phát triển | Nippon Television (1973) Tokyo Movie Shinsha (1973) TV Asahi (1979-nay) Studio Pierrot (2005-nay) |
| Kịch bản | Fujiko F. Fujio Abiko Motoo (1973 - 1987) Fujiko Production |
| Đạo diễn | Mitsuo Kaminashi (1973) Tsutomu Shibayama (1979-2005) Kozo Kusuba (2005-nay) |
| Quốc gia | |
| Ngôn ngữ | Tiếng Nhật |
| Số tập | 1950+ (các tập của loạt phim 2005) |
| Sản xuất | |
| Thời lượng | 15 phút/tập (1973) 10 phút/tập (1979-nay) |
| Phân phối | Nippon Television (1973) Toho (1979-nay) |
| Trình chiếu | |
| Kênh trình chiếu | |
| Kênh trình chiếu tại Việt Nam | |
| Phát sóng | 1 tháng 4 năm 1973 – nay |
| Thông tin khác | |
| Chương trình liên quan | Đôrêmon Thêm |
| Liên kết ngoài | |
| Trang mạng chính thức | |
| Trang mạng chính thức khác | |
Phim Đôrêmon là loạt phim hoạt hình được sản xuất dựa trên bộ truyện tranh cùng tên của Fujiko F. Fujio, được phát sóng trên kênh Nippon TV năm 1973[1] và TV Asahi từ năm 1979[2]. Phim đã có hơn 1950 tập với ba giai đoạn trình chiếu: giai đoạn 1973, 1979-2005 và giai đoạn từ 2005 đến nay.
Lấy bối cảnh xã hội Nhật Bản kéo dài từ thập niên 1970 cho đến ngày nay trong một khu phố nhỏ ở Tokyo, phim phản ánh tình bạn của nhóm Đôrêmon - Nôbita - Xuka - Chaien - Xêkô cũng như quan hệ với gia đình, họ hàng, thú nuôi trong nhà. Nhiều yếu tố khoa học viễn tưởng cũng được tác giả đưa vào phim thông qua các bảo bối, gợi lên niềm say mê khám phá khoa học trong khán giả nhỏ tuổi. Song song với loạt phim hoạt hình ngắn, nhà sản xuất còn cho ra mắt những tập phim dài đều đặn vào tháng 3 mỗi năm kể từ năm 1980 cho đến nay (trừ năm 2005). Khác với những tập phim ngắn về những mẩu chuyện hài hước, vui nhộn của nhóm bạn Nôbita - Đôrêmon, các phim dài thường mang đậm màu sắc phiêu lưu; các nhân vật quen thuộc thực hiện các chuyến du ngoạn đến những xứ sở nguy hiểm, kỳ quái vì vậy họ phải xiết chặt tình đoàn kết để vượt qua hiểm nguy. Các tập phim sau khi ra mắt đã được giới chuyên môn và nhiều khán giả đánh giá cao, được phát sóng ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Phim đã được chuyển thể thành nhiều bộ trò chơi điện tử và một vở nhạc kịch ra mắt vào năm 2008.[3]
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
[sửa] Giai đoạn năm 1973
Loạt phim này là một nỗ lực không thành công của hãng Nippon TV trong việc chuyển thể bộ truyện cùng tên. Loạt phim kéo dài 6 tháng với 52 tập (trên 26 buổi phát sóng) bắt đầu từ tháng 4 đến cuối tháng 9 năm 1973, trong đó mỗi tập kéo dài khoảng 15 phút.[4] Tuy nhiên nó đã phải ngừng phát sóng vì nhiều thiếu sót trong quá trình làm phim, bị đánh giá thấp và không thực sự phổ biến với phần đông người xem cũng như những người hâm mộ bộ truyện gốc.[5] Sau khi hủy phát sóng, Đôrêmon vẫn chỉ được biết đến như một truyện tranh đơn thuần cho đến khi loạt phim chuyển thể mới thành công hơn của TV Asahi được ra mắt.
Mở đầu mỗi buổi phát sóng là khung cảnh vui nhộn khi Đôrêmon theo cỗ máy thời gian xuất hiện từ ngăn kéo hộc bàn của Nôbita, sau đó dạo chơi quanh phố và làm mọi người ngạc nhiên trong hình dáng và những hành động kì lạ: Cậu giả làm ngáo ộp hù dọa chú chó, khiến đội bóng chày của Nôbita ngạc nhiên đến nỗi ngừng chơi, người bán hàng cho Xuka đánh rơi con cá. Cậu làm loài mèo khiếp sợ, bay cùng lũ chim trên chiếc chong chóng tre, đi trên mái nhà và bắt gặp cô mèo dễ thương. Đôrêmon dùng bảo bối để trừng phạt Chaien vì đạp lên mặt cậu nhưng lại bị Xêkô dùng chuột hù dọa và bỏ chạy vào nhà.
[sửa] Giai đoạn 1979 - 2005 và từ 2005 đến nay
Tính đến thời điểm hiện tại, đây là loạt phim Đôrêmon tồn tại lâu nhất với 1787 tập (trên 1049 buổi phát sóng[6]) từ ngày 2 tháng 4 năm 1979 đến ngày 18 tháng 3 năm 2005, trong đó mỗi tập kéo dài khoảng 10 phút.[7] Phim do hãng TV Asahi phối hợp với công ty Fujiko Production và Shogakukan sản xuất, gồm hai phần được phát sóng riêng biệt. Loạt phim chiếu hàng tuần được phát sóng từ ngày 8 tháng 4 năm 1979 đến ngày 18 tháng 3 năm 2005. Trong khi đó, loạt phim chiếu hàng ngày chỉ được duy trì từ ngày 2 tháng 4 năm 1979 đến ngày 23 tháng 9 năm 1981 với 617 tập. Ban đầu, loạt phim hàng tuần (chiếu vào chủ nhật) chỉ phát sóng lại một số tập trong loạt phim hàng ngày. Sau khi loạt phim hàng ngày kết thúc, loạt phim hàng tuần đã chuyển đổi khung giờ phát sóng và chính thức ra những tập phim mới. Ngoài ra, một số tập Đôrêmon Thêm cũng được phát hành, mở đầu là tập phim 2112: Đôrêmon ra đời năm 1995. Một số tập khác cũng được ra mắt cùng với những tập phim Đôrêmon chiếu ở rạp hoặc trong những bộ DVD.
Mở màn của mỗi buổi phát sóng là nền nhạc Doraemon No Uta, Đôrêmon và Nôbita bay trên quả bóng bay khổng lồ và thổi bong bóng xà phòng bay qua tháp truyền hình Tokyo, qua gầm cầu, đến với những đám hoa bồ công anh, sau đó dùng chong chóng tre bay trên những đám mây dày đón ánh mặt trời rực rỡ.
Đến ngày 25 tháng 3 năm 2005, tập phim cuối cùng của giai đoạn này được phát sóng. Hãng truyền hình TV Asahi đã công bố các seiyū mới để lồng tiếng cho nhân vật của Đôrêmon, họ thay thế cho những diễn viên lồng tiếng đã làm việc liên tục gần 20 năm trước đó. Thực chất thay đổi này chỉ là một sự tiếp nối trong quá trình sản xuất phim.[8] Loạt phim mới bắt đầu phát sóng chính thức vào ngày 15 tháng 4 năm 2005. Nó được sản xuất tại Studio Pierrot, chiếu trên kênh TV Asahi[9] với sự hợp tác của công ty Fujiko Production và Shogakukan. Cho đến nay, loạt phim đã có hơn 300 tập,[10] trong đó nhiều tập là phiên bản làm lại từ những tập trong loạt phim kề trước.
[sửa] Nội dung và nhân vật
- Nội dung
Đôrêmon là một chú mèo máy do Nôbitô, cháu ba đời của Nôbita, gửi về quá khứ để làm bạn và giúp đỡ Nôbita tiến bộ. Điều đó sẽ góp phần cải thiện hoàn cảnh của con cháu Nôbita sau này. Những câu chuyện trong Đôrêmon thường có một công thức quen thuộc xoay quanh những rắc rối hay xảy ra với cậu bé Nôbita lớp bốn, nhân vật chính của bộ truyện và mèo máy Đôrêmon sẽ dùng những bửu bối chứa trong chiếc túi thần kỳ trước bụng để giải nguy cho cậu ta. Thông thường mỗi tập phim đều có cảnh Nôbita chạy về nhà khóc lóc và kể lể cho bạn mèo máy nghe những uất ức cậu gặp phải ở trường hoặc những xui xẻo trong cuộc sống. Sau khi nghe lời van nài, thúc giục hoặc bị ép giúp đỡ bằng những cách thức nhiều khi có phần mưu mẹo, Đôrêmon sẽ đưa ra một bảo bối giúp Nôbita giải quyết những rắc rối với lời dặn dò mà Nôbita thường ít lờ đi. Cậu ta vốn hậu đậu lại nhanh nhảu đoản, nên sẽ dùng bảo bối này giải quyết vấn đề đi quá mức dự tính của Đôrêmon, thậm chí có khi rắc rối mới nghiêm trọng hơn rắc rối hiện tại. Cũng có lúc, Xêkô và Chaien, hai người bạn tinh quái, lợi dụng tính hậu đậu của Nôbita để lấy trộm bảo bối và sử dụng chúng theo ý muốn của mình. Tuy nhiên kết quả cuối cùng vẫn là cảnh người sử dụng bảo bối sai mục đích sẽ phải hứng chịu hậu quả do mình gây ra.[11]
Cứ vài tháng một lần, Nôbita lại tỏ quyết tâm "làm lại cuộc đời" nhưng vụ việc không diễn tiến đến đâu vì tính biếng nhác và ham ngủ của Nôbita vẫn còn. Rồi bất chợt một tình tiết bất ngờ xảy ra giúp cậu bé có thêm bản lĩnh và nghị lực. Một vài tập phim còn đề cập đến những vấn đề thời sự trong xã hội đương đại khá nghiêm chỉnh như chiến tranh vũ trụ hay bảo vệ môi trường - một trong những câu chuyện này đã được phát triển thành những bộ phim dài.
- Nhân vật
Về cơ bản, những nhân vật trong phim không có nhiều khác biệt với bộ truyện gốc. Các nhân vật chính trong phim không có nhiều mối quan hệ xã hội quá phức tạp. Ngoài Đôrêmon, bốn nhân vật khác trong nhóm bạn Nôbita đều là những học sinh tiểu học với những mối quan hệ bạn bè. Không có một sự phân cách rõ ràng trong số các nhân vật này tuy đôi lúc Chaien và Xêkô dường như tách ra khỏi nhóm để theo đuổi mục đích riêng,[ct 1] bên cạnh đó cũng không hiếm lần Xêkô đối nghịch với Chaien trong các tập phim ngắn. Mặc dù Chaien và Xêkô hay bắt nạt Nôbita nhưng khi đối mặt với nguy hiểm tất cả họ đều đoàn kết và đặt tập thể lên trên.[ct 2] Các nhân vật phụ trong phim đều xoay quanh những mối quan hệ với các nhân vật chính. Vai trò của họ khá quan trọng trong sự thành công của loạt phim, đặc biệt là bố mẹ Nôbita, thầy giáo, Đêkhi và Đôrêmi. Ngoài ra, số lượng các nhân vật không phải con người cũng khá phong phú. Đó có thể là những loài động-thực vật hoặc rôbốt được nhân cách hóa, một số nhân vật lấy cảm hứng từ truyền thuyết, văn học hay thậm chí là những hình tượng trừu tượng như gió. Trong mỗi giai đoạn phát sóng, những nghệ sĩ lồng tiếng cho một số nhân vật phụ vẫn được giữ cố định giống như đối với các nhân vật chính. Công nghệ tạo hình ngày càng hoàn thiện với những kĩ thuật mới, một số tập phim ngắn 3D (3Dショートムービー) cũng được sản xuất.[12][13][14]
[sửa] Phim hoạt hình dài
Bên cạnh các loạt phim hoạt hình ngắn, Đôrêmon cũng có các tập phim dài với thời lượng từ 95 đến 120 phút mỗi tập, được ra mắt lần đầu tiên trong năm 1980 và công chiếu định kỳ vào tháng 3 hàng năm. Riêng năm 2005, không có bộ phim nào được phát hành, do sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn 1979-2005 và 2005-nay. Kể từ năm 2006, các tập phim dài tiếp tục được công chiếu đều đặn, và đây cũng là dự định đã được ấp ủ từ lâu của tác giả Fujimoto.[15] Trong các bộ phim dài, Nôbita và các bạn đã quay về thời kỳ khủng long, đến những nơi xa xôi trong dải ngân hà, vào đến trung tâm của rừng già châu Phi nơi mà họ đã gặp một giống chó có tính người, xuống tận dưới đáy đại dương, và vào cả trong thế giới phép thuật. Nhiều phim dựa trên những truyền thuyết và giả thuyết như Atlantis, thuyết Trái Đất rỗng[ct 3] hay tác phẩm văn học nổi tiếng như Tây Du Ký[ct 4] và Nghìn lẻ một đêm[ct 5], Những cuộc phiêu lưu của Gulliver. Một số phim có chủ đề khá nghiêm túc, đặc biệt là về việc bảo vệ môi trường và việc ứng dụng các công nghệ mới. Các chuyến phiêu lưu có thể là những cuộc du hành xuyên thời gian, các cuộc chiến tranh vũ trụ, đa vũ trụ hay khám phá những miền đất mới, hành tinh lạ, một thế giới xa xôi nào đó hoặc về lịch sử Nhật Bản. Một số bộ phim dài còn được phát hành đồng thời với những tập phim ngắn đặc biệt về nhóm bạn Nôbita hoặc về nhóm Đôrêmon Thêm, với thời lượng từ 15 đến 30 phút. Riêng tập Cậu bé quả đào với thời lượng 46 phút, được phát hành riêng[ct 6].
Các tập phim dài có thể hoàn toàn được làm mới hay xuất phát từ một mẩu chuyện ngắn nào đó. Nhiều bộ phim có cấu trúc gồm một phần ngắn nói về chủ đề của phim thông qua những giấc mơ của Nôbita hay một quyển sách cậu đọc được[ct 7]... và phần sau là sự hiện thực hóa những điều tưởng như viễn vông ấy. Kể từ năm 2005, bên cạnh những phim mới còn có những phim cũ được làm lại. Tập phim đầu tiên từ năm 1980 là Chú khủng long lạc loài và gần đây nhất Bí mật hành tinh màu tím (2009), làm lại từ phiên bản năm 1981. Kể từ khi tác giả Fujiko F. Fujio qua đời, hãng phim Fujiko Prodution đã tiếp tục đảm nhận phần nội dung phim. Đến năm 2009, đây là một trong những loạt phim điện ảnh nhiều tập nhất với 29 tập và phim hoạt hình tại Nhật Bản cũng như trên toàn thế giới có nhiều tập phim chính nhất, đứng sau là Scooby-Doo với 19 tập phim hoạt hình chính - trong tổng cộng 22 tập kể cả phim do các diễn viên đóng. Một số bộ phim đã được chuyển thể thành trò chơi điện tử như trò chơi Animal Wakusei Densetsu được chuyển thể từ bộ phim Ngôi sao cảm.[18] Hiện tại, với dự án "Sega=Doraemon", một vài bộ phim dài được Sega chuyển thể thành trò chơi video,[19] như Nôbita và truyền thuyết người khổng lồ xanh DS. Tập phim Ngôi sao cảm cũng được chuyển thể thành nhạc kịch và được ra mắt ngày 4 tháng 9 đến ngày 14 tháng 9 năm 2008.[3]
| Giai đoạn 1979 - 2005 |
||||
| # | Năm sản xuất | Tên (tiếng Nhật) (kanji và rōmaji) |
Tên (tiếng Việt)[a] | Tóm tắt nội dung |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 1980 | のび太の恐竜 Nobita No Kyoryu |
Chú khủng long lạc loài[b] Thăm công viên khủng long[c] |
Chuyến phiêu lưu kì thú của nhóm bạn tại Bắc Mĩ ở kỷ Creta và nhiệm vụ cứu Pisu khỏi bọn săn khủng long đến từ tương lai. |
| 2 | 1981 | のび太の宇宙開拓史 Nobita no Uchū Kaitakushi |
Bí mật hành tinh màu tím | Cuộc đấu tranh của nhóm bạn Nôbita và người dân Hành tinh Tím với bọn Hành tinh Đen và bè lũ Xôxi đầu bạc. |
| 3 | 1982 | のび太の大魔境 Nobita no Daimakyo |
Pho tượng thần khổng lồ | Chuyến thám hiểm châu Phi của cả nhóm cùng chú chó Pêkô bí ẩn. |
| 4 | 1983 | のび太の海底鬼岩城 Nobita no Kaitei kiganjô |
Lâu đài dưới đáy biển | Một chuyến phiêu lưu khác của cả nhóm xuống đáy biển và biết được sự tồn tại của một Vương quốc ở đây. |
| 5 | 1984 | のび太の魔界大冒険 Nobita no makai dai bouken |
Nôbita lạc vào xứ quỷ | Cuộc chiến đấu của cả nhóm với thế lực đen tối ở Thế giới phép thuật. |
| 6 | 1985 | のび太の宇宙小戦争 Nobita no uchuu shô-sensô |
Tên độc tài vũ trụ | Nhóm bạn tham gia vào một cuộc chiến tranh vũ trụ của những người tí hon. |
| 7 | 1986 | のび太と鉄人兵団 Nobita to Tetsujin heidan |
Cuộc xâm lăng của binh đoàn rôbôt | Cuộc chiến của nhóm bạn với binh đoàn rôbôt đến từ vũ trụ. |
| 8 | 1987 | のび太と竜の騎士 Nobita to Ryû no kishi |
Cuộc phiêu lưu vào lòng đất | Chuyến thám hiểm của cả nhóm dưới lòng đất, cùng chứng kiến khoảng khắc loài khủng long bị tuyệt chủng vào 65 triệu năm trước. |
| 9 | 1988 | のび太のパラレル西遊記 Nobita no Parareru saiyûki |
Nôbita Tây du kí | Chuyến phiêu lưu diệt trừ yêu quái của nhóm bạn. Bộ phim được lấy cảm hứng từ Tây du kí - một tác phẩm kinh điển của văn học Trung Quốc. |
| 10 | 1989 | のび太の日本誕生 Nobita no Nihon tanjô |
Chiến thắng quỷ Kamát | Hành trình quay ngược thời gian trở về thời cổ đại của nhóm bạn. |
| 11 | 1990 | のび太とアニマル惑星 Nobita to Animaru Puranetto |
Ngôi sao cảm | Nhóm bạn Nôbita du hành đến Hành tinh Cảm và tham gia một cuộc chiến đấu với bọn xâm lược từ Hành tinh Đỏ. |
| 12 | 1991 | のび太のドラビアンナイト Nobita no Arabian naito |
Nôbita lạc vào xứ Ba Tư[b] Nôbita đến xứ Ba Tư[c] |
Xuka bị mất tích và các bạn còn lại đã đi vào một cuộc phiêu lưu đầy sóng gió để tìm cô bé. |
| 13 | 1992 | のび太と雲の王国 Nobita to Kumo no ôkoku |
Vương quốc trên mây | Nhóm bạn Nôbita ngăn chặn được kế hoạch tẩy rửa Địa cầu của những người ở Vương quốc trên mây. |
| 14 | 1993 | のび太とブリキの迷宮 Nobita to Buriki no rabirinsu |
Bí mật mê cung Buriki[b] Bí mật mê cung Bliki[c] |
Nhóm bạn đến hành tinh Bliki để chiến đấu với bọn rôbôt nổi loạn ở nơi đây. |
| 15 | 1994 | のび太と夢幻三剣士 Nobita to Mugen sankenshi |
Ba chàng hiệp sĩ mộng mơ | Cả nhóm đã đến thời Trung cổ và trở thành những hiệp sĩ bằng chiếc máy tạo giấc mơ. |
| 16 | 1995 | のび太の創世日記 Nobita no Sousei nikki |
Lạc vào thế giới côn trùng | Cuộc phiêu lưu thú vị của nhóm bạn vào thế giới côn trùng dưới lòng đất, trong một không gian mô phỏng của bộ mô hình vũ trụ. |
| 17 | 1996 | のび太と銀河超特急 Nobita to Ginga ekusupuresu |
Hành trình qua dải Ngân Hà | Chuến du lịch ngoài vũ trụ qua nhiều hành tinh khác nhau và cuộc chiến đấu với bọn UFO của nhóm bạn. |
| 18 | 1997 | のび太のねじ巻き都市冒険記 Nobita no Neji maki shitî Bôkenki |
Thành phố thú nhồi bông | Nhóm bạn Đôrêmon đã gây dựng một hành tinh gồm toàn thú nhồi bông và sau đó là cuộc chiến bảo vệ hành tinh non trẻ. |
| 19 | 1998 | のび太の南海大冒険 Nobita no Nihon tanjô |
Cuộc phiêu lưu đến đảo giấu vàng | Chuyến thám hiểm đi tìm kho báu trên con tàu cướp biển của những thế kỷ trước của các nhân vật. |
| 20 | 1999 | のび太の宇宙漂流記 Nobita no Uchû hyôryûki |
Đi tìm miền đất mới | Cuộc phiêu lưu vũ trụ đầy trắc trở của các nhóm bạn Đôrêmon trên con tàu của một chủng tộc người sống lưu vong ngoài vũ trụ. |
| 21 | 2000 | のび太の太陽王伝説 Nobita no Taiyô'ô densetsu |
Truyền thuyết về vua Mặt Trời Nôbita | Một cuộc du hành xuyên thời gian và không gian đưa cả nhóm đến với nền văn minh Maya cổ đại ở Nam Mỹ. |
| 22 | 2001 | のび太と翼の勇者たち Nobita to tsubasa no yûsha tachi |
Du hành đến vương quốc loài chim | Chuyến khám phá thế giới loài chim đầy kì thú của nhóm bạn. |
| 23 | 2002 | のび太とロボット王国 Nobita to robotto kingudamu |
Cuộc chiến ở xứ sở rôbốt | Câu chuyện về cuộc phiêu lưu của nhóm bạn đến xứ sở rôbôt xa xôi và đầy trắc trở. |
| 24 | 2003 | のび太とふしぎ風使い Nobita to fushigi kazetsukai |
Cuộc phiêu lưu đến vương quốc gió | Nhóm Đôrêmon đến với Vương quốc gió và diệt trừ con rồng bí ẩn nơi đây. |
| 25 | 2004 | のび太のワンニャン時空伝 Nobita no Wan Nyan Jikûden |
Nôbita ở vương quốc chó mèo | Tình bạn xuyên thời gian, không gian, chủng loài giữa Nôbita và chú chó của mình cùng cuộc đấu tranh chống thế lực xấu xa đang tồn tại ở thế giới chó mèo. |
| Giai đoạn từ 2005 đến nay |
||||
| 26 | 2006 | のび太の恐竜2006 Nobita no Kyoryu 2006 |
Thăm công viên khủng long | Phiên bản làm lại của tập phim năm 1980. |
| 27 | 2007 | のび太の新魔界大冒険~7人の魔法使い~ Eiga Doraemon Nobita no Shin Makai Daibouken ~Shichi nin no Mahou Tsukai |
Cuộc phiêu lưu mới của Nôibita ở xứ quỷ - 7 người phù thủy[d] | Phiên bản làm lại của bộ phim năm 1984. |
| 28 | 2008 | のび太と緑の巨人伝 Nobita to Midori no Kyojinden |
Nôbita và truyền thuyết Thần rừng[d] | Một phi thuyền kì lạ kéo nhóm bạn Nôbita và Kibô lên Hành tinh Cây; họ phải tìm mọi cách để ngăn cản kế hoạch phủ xanh toàn bộ bề mặt Trái Đất của những người thủ lĩnh nơi đây. |
| 29 | 2009 | のび太の宇宙開拓史 Eiga Doraemon Shin Nobita No Uchukai Takush |
Hành trình mới của Nôbita: Hành tinh Tím[d] | Phiên bản làm lại của năm 1981. |
| 30 | 2010 | 映画ドラえもん のび太の人魚大海戦 Eiga Doraemon Nobita no Ninkyo Daikaisen |
Nôbita và Đại chiến người cá khổng lồ[d] | Một chuyến phiêu lưu tình cờ của nhóm bạn đến Vương quốc người cá và tham gia một trận chiến gây cấn ở đấy để giành lại thanh kiếm thần, vật hộ mệnh cho cả vương quốc. |
| 31 | 2011 | 映画ドラえもん 新・のび太と鉄人兵団 ~はばたけ 天使たち~ Eiga Doraemon Shin Nobita to Tetsujin Heidan ~Habatake Tenshi Tachi~ |
Cuộc xâm lăng mới của binh đoàn rôbôt: ~Đôi cánh Thiên thần~[d] | Phiên bản làm lại của năm 1986. |
Ghi chú:
|
[sửa] Đánh giá và ảnh hưởng
Loạt phim Đôrêmon kể từ khi ra đời đã trải qua nhiều thăng trầm. Trong giai đoạn năm 1973, những thiếu sót trong quá trình làm phim đã khiến nó bị đánh giá thấp và không phổ biến với phần lớn người xem và những người hâm mộ bộ truyện gốc[5]. Sau sáu tháng công chiếu, loạt phim này đã chính thức hủy phát sóng. Giai đoạn 1979-2005, các tập Đôrêmon đều chiếm được tỉ lệ khán giả đón xem rất cao, điều này được cho là một trong động lực lớn thúc đẩy ngành công nghiệp phim hoạt hình Nhật Bản phát triển.[20] Đến ngày 22 tháng 9 năm 2005, TV Asahi đã công bố danh sách Top 100 Anime được bình chọn từ những khán giả Nhật Bản, đây là danh sách 100 loạt phim hoạt hình Nhật Bản và cả những phim hoạt hình nước ngoài như Tom và Jerry, với sáu thể loại: thiếu niên, 20-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi, 50-59 tuổi, 60 tuổi trở lên. Loạt phim Đôrêmon đã đứng vị trí thứ ba,[21] sau Mobile Suit Gundam và Bảy viên ngọc rồng. Theo một thăm dò trên mạng của TV Asahi sau khi kết quả trên được công bố, loạt phim đứng vị trí thứ năm với 1184 lượt bình chọn, sau Fullmetal Alchemist, Gundam, Bảy viên ngọc rồng và Mahō Sensei Negima!.[22] Loạt phim từ 2005 đến nay cũng thường xuyên đạt những vị trí cao trong bảng xếp hạng của Video Research.[23][24][25]
Các tập phim dài thuộc thời kì này cũng đã có những thành công nhất định với nhiều bộ phim có doanh thu cao ngay từ những tuần đầu tiên ra mắt. Tuy đều là các tập phim làm lại nhưng Chú khủng long lạc loài (năm 2006) và Bí mật hành tinh màu tím (năm 2009) đều vị thứ 2 trên bảng xếp hạng phim tại Nhật Bản[26][27]; riêng tập phim Nôbita lạc vào xứ quỷ (năm 2007) còn vươn lên vị trí cao nhất trong tuần đầu tiên phát hành[28] và trở thành bộ phim hoạt hình có doanh thu cao đứng thứ hai ở Nhật Bản trong năm 2007 với 3,54 tỉ yên, chỉ đứng sau tập phim chủ đề thứ 10 về Pokémon Gekijōban Poketto Monsutā Daiyamondo Pāru Diaruga Tai Parukia Tai Dākurai (劇場版ポケットモンスター ダイヤモンド&パール ディアルガVSパルキアVSダークライ).[29] Vào năm 2008, bộ phim dài Nôbita và truyền thuyết người khổng lồ xanh đứng đầu bảng xếp hạng phim trong ba tuần.[30] Nó cũng được đề cử cho giải thưởng Anime của năm của Viện hàn lâm Nhật Bản nhưng không đoạt giải, thay vào đó là bộ phim Gake no Ue no Ponyo (崖の上のポニョ)[31]. Tại Nhật Bản, Nôbita và truyền thuyết người cá khổng lồ đã trở thành phim ăn khách nhất ngay trong tuần đầu ra mắt, đánh bại Avatar giữ vị trí này suốt 9 tuần đầu năm 2010.[32]
Đôrêmon là một trong những loạt anime truyền hình dài nhất, tính theo số lượng tập, chỉ đứng sau Sazae-san[1] - một loạt phim phát sóng từ ngày 5 tháng 10 năm 1969 trên kênh Fuji TV.[33] Ngày 10 tháng 2 năm 1995, ba tuần sau trận động đất Kobe khiến hơn 6.000 người thiệt mạng, 300.000 người mất nhà cửa, để khích lệ những đứa trẻ ở đây, một rạp chiếu phim đã mở cửa miễn phí cho các em vào xem và bộ phim được họ chọn chiếu là một phim hoạt hình dài Đôrêmon.[34] Loạt phim đã góp phần đưa hình tượng chú mèo máy đến với toàn thế giới, giúp cậu trở thành nhân vật hoạt hình duy nhất trong số 22 nhân vật nổi bật của châu Á (Asian Heroes) trong một bài báo có tựa đề The Cuddliest Hero in Asia (Anh hùng đáng yêu nhất ở châu Á) do tạp chí TIME bầu chọn.[35] Tháng 3 năm 2008, chính phủ Nhật Bản đã chọn Đôrêmon là Đại sứ hoạt hình chính thức của Nhật Bản trong một buổi lễ do đích thân Ngoại trưởng Nhật Bản Komura Masahiko chủ trì.[36] Năm 2005, Đôrêmon là tác phẩm được Hội Nhật Bản tại New York lựa chọn để đại diện cho văn hóa otaku Nhật Bản trong cuộc triển lãm Little Boy: The Arts of Japan's Exploding Subculture do nghệ sĩ Murakami Takashi chủ trì.[37] Theo Murakami, cốt truyện của Đôrêmon là đại diện tiêu biểu cho tâm lý "hiện thực hóa giấc mơ" tại Nhật Bản vào thập niên 1970 khi cuộc cách mạng về điện tử mở ra cho mọi người ý tưởng về việc giải quyết mọi rắc rối bằng máy móc thay vì phải bằng sức lao động hoặc sử dụng trí thông minh. Một cuộc thăm dò được Oricon công bố ngày 14 tháng 4 năm 2008 với đối tượng là những người hâm mộ hoạt hình Nhật Bản theo câu hỏi Bạn muốn trở thành nhân vật anime nào nhất?, theo đó nhân vật Đôrêmon đứng ở vị trí thứ hai, sau Sôngôku (Bảy viên ngọc rồng) còn Nôbita đứng thứ tư sau Monkey D. Luffy (Đảo hải tặc).[38] Mặc dù không được công chiếu chính thức ở Hoa Kỳ, Đôrêmon vẫn gây được ảnh hưởng lên một số chương trình truyền thông ở đây. Nhân vật Broadband của Ủy ban Truyền thông Liên bang khá giống Đôrêmon, điều này đã dẫn đến một số rắc rối xung quanh vấn đề bản quyền giữa Shogakukan với Ủy ban này.[39]
[sửa] Sản xuất
[sửa] Phát sóng
Kể từ khi công chiếu, khung giờ phát sóng của bộ phim đã có nhiều thay đổi[40][4][9]. Từ năm 1973 đến năm 1981 bộ phim phát sóng vào chủ nhật và nhiều lần được điều chỉnh khung giờ phát sóng. Từ ngày 14 tháng 4 năm 1989, loạt phim được chiếu vào ngày thứ sáu từ 19:00 đến 19:30 và cố định đến nay.
| Loạt phim chiếu hàng tuần Thời lượng: 30 phút |
||
| Khoảng thời gian | Ngày phát sóng trong tuần | Thời gian phát sóng[41][4][9] Tính theo Giờ chuẩn Nhật Bản |
|---|---|---|
| 1 tháng 4, 1973 - 30 tháng 9, 1973 | Chủ nhật | 19:00 - 19:30 |
| 8 tháng 4, 1979 - 30 tháng 3, 1980 | Chủ nhật | 8:30 - 9:00 |
| 6 tháng 4, 1980 - 27 tháng 9, 1981 | Chủ nhật | 9:30 - 10:00 |
| 2 tháng 10, 1981 - 9 tháng 10, 1987 | Thứ Sáu | 19:00 - 19:30 |
| 23 tháng 10, 1987 - 31 tháng 3, 1989 | Thứ Sáu | 18:50 - 19:20 |
| 14 tháng 4, 1989 - 18 tháng 3, 2005 | Thứ Sáu | 19:00 - 19:30 |
| 15 tháng 4, 2005 - hiện tại | Thứ Sáu | 19:00 - 19:30 |
| Loạt phim chiếu hàng ngày Thời lượng: 10 phút |
||
| Khoảng thời gian | Ngày phát sóng trong tuần | Thời gian phát sóng[42] Tính theo Giờ chuẩn Nhật Bản |
| 2 tháng 4, 1979 - 23 tháng 9, 1981 | Thứ hai đến Thứ bảy | 18:50 - 19:00 |
[sửa] Người lồng tiếng
Trong giai đoạn năm 1973, lực lượng người lồng tiếng (seiyū) cho phim Đôrêmon khá đông đảo. Nhân vật Đôrêmon do Tomita Kōsei (tập 1 - tập 13) và Nozawa Masako (tập 14 - tập 52) lồng tiếng,[1] Ōta Yoshiko lồng tiếng cho Nôbita, Ebisu Masako lồng tiếng cho Xuka, Yashiro Shun lồng tiếng cho Xêkô, Kimotsuki Kaneta lồng tiếng cho Chaien. Sau khi loạt phim này bị hủy phát sóng, một số seiyū được hãng TV Asahi mời tiếp tục lồng tiếng cho phim trong giai đoạn 1979 - 2005. Trong loạt phim mới, Kimotsuki Kaneta được chọn làm người lồng tiếng Xêkô, Ohara Noriko vốn lồng tiếng cho nhân vật mẹ Nôbita được chọn để lồng tiếng cho Nôbita, Hori Junko vốn lồng tiếng cho Gatchako (một rôbôt trong phim) được chọn lồng tiếng cho vai mẹ Xêkô. Từ năm 1979 đến năm 2005, người lồng tiếng cho năm nhân vật chính và một số nhân vật khác trong phim Đôrêmon vẫn không thay đổi. Chỉ sau lễ kỉ niệm 25 năm của loạt phim 1979 - 2005, các seiyū cũ mới ngừng làm việc. Để thay thế họ, vào ngày 13 tháng 3 năm 2005, hãng truyền hình TV Asahi đã công bố các seiyū mới[43]:
| Nhân vật | Người lồng tiếng[2] 2/4/1979 - 25/3/2005 |
Người lồng tiếng 15/4/2005 - nay |
Nhân vật | Người lồng tiếng 2/4/1979 - 25/3/2005 |
Người lồng tiếng 15/4/2005 - nay |
|---|---|---|---|---|---|
| Doraemon | Ōyama Nobuyo | Mizuta Wasabi | Thầy giáo | Tanaka Ryōichi | Takagi Wataru |
| Nobita | Ohara Noriko | Ōhara Megumi | Người hàng xóm cạnh sân bóng |
Watabe Takeshi | Hōki Katsuhisa |
| Shizuka | Nomura Michiko | Kakazu Yumi | Mẹ Shizuka | Matsubara Masako | Orikasa Ai |
| Jaian | Tatekabe Kazuya | Kimura Subaru | Mẹ Jaian | Aoki Kazuyo | Takeuchi Miyako |
| Suneo | Kimotsuki Kaneta | Seki Tomokazu | Mẹ Suneo | Yokoo Mari | Takayama Minami |
| Dorami | Yokozawa Keiko | Chiaki | Bố Suneo | Katō Osamu | Tanaka Hideyuki |
| Mẹ Nobita | Chijimatsu Sachiko | Mitsuishi Kotono | Bố Nobita | Naka Yōsuke | Matsumoto Yasunori |
| Sewashi | Ōta Yoshiko | Matsumoto Sachi | Jaiko | Aoki Kazuyo | Yamazaki Vanilla |
| Dekisugi | Shirakawa Sumiko | Hagino Shihoko |
[sửa] Nhạc phim
Nhiều ca khúc đã được sử dụng trong các giai đoạn khác nhau của loạt phim. Trong số đó, ca khúc Doraemon no uta (ドラえもんのうた, Bài hát Đôrêmon) được trình diễn lâu nhất. Cho đến nay, nhiều bản nhạc phim của bộ phim cũng được phát hành,[44] bao gồm những album hoặc các đĩa đơn tập hợp những bài hát được sử dụng trong loạt phim, nhạc phim của những bộ phim hoạt hình dài. Năm 2009, album Doraemon TV Soundtrack Collection được phát hành, tập hợp những ca khúc mở đầu và kết thúc của loạt phim trong suốt 30 năm phát sóng trên TV Asahi (1979 - 2009). Bên cạnh đó cũng có nhiều đĩa đơn được chọn làm soundtrack của phim như YUME Biyori, Aa Ii na! hay Te o Tsunagō.
[sửa] Bài hát mở đầu
Trong giai đoạn 1973, bài hát Doraemon no uta do Yamano Satoko trình bày[ct 8] và Doraemon do Naitoh Harumi trình bày đều được chọn làm nhạc mở đầu cho phim[1]. Trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 2005, bài hát mở đầu mỗi tập phim Đôrêmon vẫn là Doraemon no uta với năm lượt biểu diễn qua các thời kì:
-
"Doraemon no uta" 16 giây nhạc dạo đầu của ca khúc Doraemon no uta. - Trục trặc khi nghe? Xem hướng dẫn.
| # | Người biểu diễn[2] | Ngày bắt đầu | Ngày kết thúc |
|---|---|---|---|
| 1. | Ōsugi Kumiko | 2 tháng 4, 1979 | 2 tháng 10, 1992 |
| 2. | Yamano Satoko | 9 tháng 10, 1992 | 20 tháng 9, 2002 |
| 3. | Tokyo Purin | 4 tháng 10, 2002 | 11 tháng 11, 2003 |
| 4. | Watanabe Misato | 18 tháng 4, 2003 | 23 tháng 4, 2004 |
| 5. | AJI | 30 tháng 4, 2004 | 18 tháng 3, 2005 |
Trong loạt phim từ 2005 đến nay, có thêm những bài hát mở đầu và ca sĩ trình bày mới. Bài Doraemon no Uta do nhóm nhạc nữ Trung Quốc 12 Girls Band trình bày được sử dụng từ ngày 15 tháng 4 năm 2005 (tập 1) đến ngày 21 tháng 10 năm 2005 (tập 24). Ca khúc thứ hai Hagusichao do Natsukawa Rimi biểu diễn được chọn trình chiếu từ ngày 28 tháng 10 năm 2005 (tập 25) đến ngày 20 tháng 4, năm 2007 (tập 86). Bài hát cuối cùng được phát sóng từ ngày 11 tháng 5 năm 2007 (tập 87) và vẫn được sử dụng đến hiện tại có tên Yume wo Kanaete Doraemon do MAO trình bày. Có hai bài hát được sử dụng trong những buổi phát sóng của loạt phim hàng ngày, trong đó ca khúc đầu tiên giống bài hát đầu của loạt phim hàng tuần - bài Doraemon no Uta do Ōsugi Kumiko biểu diễn được sử dụng từ ngày 2 tháng 4, 1979 đến ngày 29 tháng 9, 1979. Bài thứ hai mang tên Boku Doraemon trình bày bởi Oyama Nobuyo, Koorogi '73 được dùng từ ngày 1 tháng 10, 1979 đến ngày 26 tháng 9, 1981.
[sửa] Bài hát kết thúc
Trong giai đoạn 1973, bài hát kết thúc của mỗi tập phim là Doraemon Rumba do Naitoh Harumi trình bày. Từ năm 1979 đến năm 2005, đã có nhiều bài hát kết thúc do nhiều ca sĩ khác nhau trình bày, trong đó có cả những ca khúc do Ōyama Nobuyo - người lồng tiếng cho Đôrêmon thể hiện:[2]
| # | Tên bài hát | Người biểu diễn | Ngày bắt đầu | Ngày kết thúc |
|---|---|---|---|---|
| 1. | Aoi Sora wa Pocket sa | Oosugi Kumiko | 8 tháng 4, 1979 | 27 tháng 9, 1981 |
| 2. | Maru-gao no Uta | Ōyama Nobuyo | 2 tháng 10, 1981 | 30 tháng 3, 1984 |
| 3. | Santa Claus wa Doko no Hito | Ōyama Nobuyo | 18 tháng 11, 1983 | 30 tháng 12, 1983 |
| 4. | Boku-tachi Chikyuu-jin | Horie Mitsuko | 6 tháng 4, 1984 | 8 tháng 4, 1988 |
| 5. | Aozora-tte Iina | Horie Mitsuko | 15 tháng 4, 1988 | 2 tháng 10, 1992 |
| 6. | Ashita mo Tomodachi | Nishiwaki Yui | 9 tháng 10, 1992 | 7 tháng 4, 1995 |
| 7. | Boku Doraemon 2112 | Oyama Nobuyo, Koorogi '73 | 14 tháng 4, 1995 | 20 tháng 9, 2002 |
| 8. | Mata Aeru Hi Made | Yuzu | 4 tháng 10, 2002 | 11 tháng 4, 2003 |
| 9. | Tanpopo no Uta | The Alfee | 18 tháng 4, 2003 | 4 tháng 10, 2003 |
| 10. | YUME Biyori | Shimatani Hitomi | 10 tháng 10, 2003 | 28 tháng 5, 2004 |
| 11. | Aa Ii na! | W | 4 tháng 6, 2004 | 18 tháng 3, 2005 |
Trong loạt phim từ 2005 đến nay, có thêm bài hát kết thúc mới được sử dụng mang tên Odore Dore Dora Doraemon Ondo do chính diễn viên lồng tiếng cho Đôrêmon, Mizuta Wasabi trình bày. Bài hát này cùng ca khúc Yume wo Kanaete Doraemon đã được phát hành vào năm 2007 trong album cùng tên. Bài hát kết thúc được sử dụng cho loạt phim hàng ngày[2] bao gồm: Doraemon Ekaki-uta của Ōyama Nobuyo, Doraemon Ondo của Ōyama Nobuyo, Koorogi '73 và Dorami-chan Ekaki-uta của Yokozawa Keiko.
[sửa] Biểu trưng
|
|||||||
Các biểu trưng cho loạt phim được cách điệu điệu từ chữ Đôrêmon trong cách viết theo kiểu chữ mềm Hiragana (ドラえもん) của chữ Nhật với những chiếc chân tròn của nhân vật Đôrêmon, đôi mắt trên chữ ド (do) và chiếc chuông nhỏ màu vàng trên chữ え (e). Hình dáng, màu sắc và khoảng cách giữa các chữ trên biểu trưng cũng có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn.
[sửa] Truyền hình quốc tế
Kể từ năm 1979 đến nay, các tập phim ngắn cũng như các bộ phim dài Đôrêmon đã được ra mắt tại nhiều quốc gia thuộc nhiều châu lục trên thế giới. Phim lần đầu tiên được ra mắt ở nước ngoài vào năm 1982 tại Hồng Kông, Thái Lan, Ý và một số nước Nam Mỹ, sau đó đến nhiều nước khác như Nga (1990), Trung Quốc (1991), Ấn Độ (1991), Indonesia (1991), các nước Đông Á, Đông Nam Á, châu Âu và Trung Đông. Đặc biệt, loạt phim đã được trình chiếu trên rất nhiều kênh ở các địa phương thuộc Tây Ban Nha như TV3, K3, Boomerang, Telemadrid, Canal Sur, Canal Sur 2, 7RM, TV Canaria, RTPA, TVG, IB3, Canal 9 và ETB. Vào ngày 14 tháng 11 năm 2008, Viz Media đã trình chiếu phim Chú khủng long lạc loài với phiên bản gốc Nhật kèm phụ đề tiếng Anh tại Washington D.C., ghi dấu sự xuất hiện của Đôrêmon tại Hoa Kỳ.[45] Dưới đây là các kênh truyền hình đã phát sóng phim Đôrêmon thuộc giai đoạn 1979 - 2005:
| Kênh | Quốc gia và vùng lãnh thổ | Kênh | Quốc gia và vùng lãnh thổ |
|---|---|---|---|
| Canal 2 Andalucía | RTÉ Two | ||
| ITV | Jetix | ||
| Hungama TV | Telemadrid | ||
| Polsat, TV4, Jetix | Ntv7 (2002-2008), RTM1 | ||
| ETB 1 | Cartoon Network và Canal 5 | ||
| RTP 1, Canal Panda | TV2, Jetix | ||
| Rede Manchete | Red Global | ||
| C33 | M6, Fox Kids | ||
| Kênh 13 (1983-1988) Chilevisión (2000) |
GMA Network | ||
| Canal Caracol | Channel 8 | ||
| Telesistema 11 | MCOT | ||
| CTS | TV4, Jetix | ||
| Ecuavisa | MBC | Trung Đông | |
| TVG | CCTV-1 | ||
| Jetix | Cartoon Network/Toonami | ||
| ChampTV, AnioneTV | TVV (Canal 9 và Punt 2) | ||
| TVB | VTC1, LA34,VTV1, HTV3 | ||
| RCTI | Junior TV, Italia1, Boing |
Từ giai đoạn từ năm 2005 đến nay, loạt phim được phát sóng trên nhiều kênh truyền hình quốc gia như TVB của Hồng Kông, Televicentro (Kênh 2) của Nicaragua, Canal Sur 2 và Canal Sur của Tây Ban Nha, TV9 của Malaysia hay MediaCorp TV12 okto của Singapore. Phim còn được trình chiếu trên kênh Nickelodeon Đông Nam Á tại nhiều quốc gia, gồm Malaysia, Singapore, Philippines và Indonesia. Loạt phim này cũng được dự kiến ra mắt trên kênh ABC Television ở Úc vào ngày 3 tháng 9 năm 2010 (sinh nhật của Đôrêmon), dựa vào phiên bản tiếng Anh đã được chiếu ở Singapore của kênh Nickelodeon.
[sửa] Tham khảo
[sửa] Chú thích
- ^ Tập phim Lâu đài dưới đáy biển
- ^ Tập phim Thăm công viên khủng long
- ^ Tập phim Cuộc phiêu lưu vào lòng đất và Lạc vào thế giới côn trùng
- ^ Tập phim Tây Du Ký
- ^ Tập phim Nôbita đến xứ Ba Tư
- ^ Năm 1981, tập phim dài Bí mật hành tinh màu tím phát hành ngày 14 tháng 3 năm 1981[16], trong khi đó Cậu bé quả đào phát hành ngày 1 tháng 08 năm 1981[17]
- ^ Tập phim Bí mật hành tinh màu tím, Đôrêmon: Nôbita lạc vào xứ quỷ, Cuộc phiêu lưu đến đảo giấu vàng
- ^ Bài hát này đã từng được nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện dịch ra tiếng Việt với tựa đề Đôrêmon.
[sửa] Ghi chú
- ^ a b c d “Doraemon (TV)”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b c d e “Doraemon (TV2)”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b “First Doraemon Stage Play Announced in Japan”. Anime News Network. Truy cập 26 tháng 2 năm 2008.
- ^ a b c “Doraemon1”. animated-divots.com. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b “【幻のドラえもん】(下)突然の最終回、セル画は河川敷で燃やされた”. Sankei Shimbun. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon”. animated-divots.com. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon”. MyAnimeList. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Thông báo của đài TV Asahi”. TV Asahi. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ a b c “Doraemon3”. animated-divots.com. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon”. TV Asahi. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ Jeffeson M. Peters 2002, tr. 104
- ^ “Doraemon No.1” (bằng tiếng Nhật). Dora-world - Shogakukan. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon No.2” (bằng tiếng Nhật). Dora-world - Shogakukan. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon No.3” (bằng tiếng Nhật). Dora-world - Shogakukan. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ Masanao Amano, Julius Wiedemann 2004, tr. 428
- ^ “Doraemon: Nobita no Uchū Kaitakushi (movie)”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon: What Am I for Momotaro (movie)”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon 2”. GameFaqs. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon Wii”. GameSpot. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ Elisabeth Baton-Hervé 2000, tr. 191
- ^ “TV Asahi Top 100 Anime”. TV Asahi. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “TV Asahi Top 100 Anime”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japanese Anime TV Ranking, March 24–30: Seasonal Break”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japanese Anime TV Ranking, February 25–March 2”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japanese Anime TV Ranking, April 27-May 3”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “New Anime Invade the Box Office”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japanese Box Office, March 7-8”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japan box office index”. Box Office Mojo. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japanese Box Office: Top 10 Anime Movies of 2007 - Update”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japan box office index”. Box Office Mojo. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Ponyo Wins Tokyo Anime Fair's Animation of the Year”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japan Box Office Index”. Box Office Mojo. Truy cập 31 tháng 3 năm 2010.
- ^ “Sazae-san (TV)”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ Saya S. Shiraishi 1997, tr. 235
- ^ Pico Iyer, “The Cuddliest Hero in Asia”, TIME Asia, 26 tháng 5 năm 2006. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Japan appoints cartoon ambassador”. MSNBC. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Little Boy: The Arts of Japan’s Exploding Subculture”. Hội Nhật Bản tại New York. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Kết quả từ Oricon”. Oricon. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon handler calls FCC copycat”. Japan Times. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon/Anime TV series”. animemorial. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon/Anime TV series” (bằng tiếng Anh). animemorial. Truy cập 2009-16-04.
- ^ “Doraemon/Anime TV series weekday” (bằng tiếng Anh). animemorial. Truy cập 2009-16-04.
- ^ “Thông báo từ TV Asahi”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Doraemon CD” (bằng tiếng Nhật). Toypara. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ “2006 Doraemon Film to be Shown in D.C. on November 14”. Anime News Network. Truy cập 31 tháng 7 năm 2009.
[sửa] Đọc thêm
- Saya S. Shiraishi (1997). "7. Japan's Soft Power: Doraemon Goes Oversea". trong Peter J. Katzenstein, Takashi Shiraishi (tiếng Anh). Network Power - Japan and Asia. Cornell University Press. 234. ISBN 0801483735.
- Saya S. Shiraishi (2000). "16. Doraemon Goes Abroad". trong Timothy J. Craig (tiếng Anh). Japan Pop! Inside the World of Japanese Popular Culture. M.E. Sharpe. 287. ISBN 0765605619.
- Elisabeth Baton-Hervé (2000). Les enfants téléspectateurs. L'Harmattan. 191. ISBN 2738493556.
- Jeffeson M. Peters (2002). "9. The Desire to Control Time in Doraemon and Japanese Culture". trong Gary Westfahl, George Edgar Slusser, David Leiby (tiếng Anh). Worlds Enough and Time: Explorations of Time in Science Fiction and Fantasy. Greenwood Publishing Group. 103. ISBN 0313317062.
- Masanao Amano, Julius Wiedemann (2004). Manga Design. Taschen. 428. ISBN 3822825913.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Doraemon (phim). |
- (tiếng Nhật) Website Đôrêmon chính thức
- (tiếng Nhật) Website phim Đôrêmon chính thức
- (tiếng Nhật) Website Đôrêmon chính thức trên TV Asahi Website
- (tiếng Anh) Bài viết về Đôrêmon trên TIME Asia
- (tiếng Anh) Phim hoạt hình Đôrêmon trên Bách khoa toàn thư của Anime News Network