Đơn Dương (diễn viên)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đơn Dương (19572011) là một diễn viên nổi tiếng người Việt.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật Bùi Đơn Dương, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1957 tại Đà Lạt[1]. Ông có một người chị tên Bùi Thị Giang, về sau trở thành vợ của một đạo diễn Việt Nam nổi tiếng: Lê Cung Bắc.

Thuở nhỏ, Đơn Dương học giỏi và từng thi đậu và học ngành dược. Ông từng có thời gian làm tại một xí nghiệp dược phẩm [2]. Tuy nhiên do ham mê điện ảnh nên ông đã bỏ ngang để theo nghệ thuật. Chánh Tín là người dẫn dắt Đơn Dương vào lĩnh vực điện ảnh [3][4].

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sự nghiệp của mình ông từng đóng 38 bộ phim. Vai diễn đầu tiên vào năm 1982 trong bộ phim Pho tượng [5].

Một số phim ông từng tham gia:

Năm Phim Vai diễn Chú thích
1982 Pho tượng [5] Dũng
1990 Phía sau cuộc chiến [5]
1991 Canh bạc [6] anh lái xe Chiến
1992 Dấu ấn của quỷ [6] hoạ sĩ / người tù
1993 Chuyện tình trong ngõ hẹp [7] anh thợ điện Toàn Tên cũ: Ngõ đàn bà
1993 Cỏ lau [6] trung tá Lực
1993 Tạm biệt sông Ba [1] Phim Hàn Quốc
1995 Giữa dòng [6] Phim truyện video
1996 Bông sen vàng [1] Trần
1996 Người đẹp Tây Đô Hoàng Thái Phim truyền hình
1998 Chung cư Ba Tuàn tiếng Pháp: L'Immeuble
tiếng Anh: The Building
1999 Ba mùa Hải tiếng Anh: Three Seasons
2000 Đời cát ông Cảnh tiếng Anh: Sand life
2001 Rồng xanh Trần Tài
2002 Chúng tôi từng là lính Nguyễn Hữu An nhan đề gốc tiếng Anh: We were soldiers
tiếng Đức: Wir waren Helden
2002 Mê Thảo, thời vang bóng Tam tiếng Pháp: Mê Thao - Il fut un temps
tiếng Anh: Mê Thao: There Was a Time When
2003 Ngày giỗ Người cha tiếng Anh: The Anniversary
Đạo diễn: Trần Hàm
 ? Bản tình ca [6]
 ? Biệt ly trắng [3] Nam
 ? Chuyện ngã bảy [6]
 ? Ông Hai cũ [3] Chính uỷ Thắng
 ? Vùng trời cho chim câu [6]

Ước mơ thành danh bất thành[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn Dương từng hợp tác với điện ảnh Mỹ qua các bộ phim Ba mùa (đạo diễn Tony Bùi), Chúng tôi từng là lính (We were soldiers), Rồng xanh. Trong bộ phim Chúng tôi từng là lính ông đóng chung với Mel Gibson. Trong đó Đơn Dương thủ vai Nguyễn Hữu An, chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Trận Ia Đrăng.

Tuy nhiên sau khi đóng hai bộ phim Chúng tôi từng là línhRồng xanh, ông nhận nhiều chỉ trích dữ dội từ phía chính quyền cũng như phía dư luận vì đã tham gia đóng những bộ phim mang tính "xuyên tạc lịch sử", bôi xấu hình ảnh quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, Đơn Dương luôn khẳng định mình vô tội và trong một bức thư gửi cho gia đình, Đơn Dương nhấn mạnh rằng ông mãi mãi không bao giờ phản bội đất nước. Sau một thời gian ngắn, ông sang Mỹ và sống tại San Francisco, California cho đến khi qua đời ngày 7 tháng 12 năm 2011 vì tai biến mạch máu não [8]. Tro cốt ông được mang về quê hương theo nguyện vọng của ông lúc sinh thời.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn Dương có với người vợ đầu Vũ Xuân Sanh hai con trai. Con trai cả hiện sống ở trung quốc, con trai thứ sống ở Cà mau [4]. Khi sang Mỹ, ông li dị người vợ cả và lấy người vợ sau có tên Mỹ Hạnh, chủ trung tâm thẩm mỹ Hạnh Phước, hơn mình 14 tuổi vào năm 2008 [2].

Tai tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn Dương bị tòa án Fairfax Virginia phạt 200.000 USD trong phiên tòa mà Đơn Dương bị kết án là chụp ảnh, quay băng sex tống tiền Trần Thị Phương Liên. Đơn Dương khẳng định trước báo giới, ông không hề quay phim sex, và không dùng phim sex để tống tiền bạn gái cũ. Ngoài ra, luật sư của ông ở Virginia tiến hành thủ tục với tòa án Fairfax để xin hủy bỏ án lệnh ngày 27/2/2009, đồng thời phản tố cô Liên Trần về hành động vu khống, lăng mạ. Cuối cùng, Trần Thị Phương Liên tự ý bãi nại, hủy kiện [6][9].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]