Đường Túc Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Túc Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Vua nhà Đường
Tại vị 13/8/756[1][2]16/5/762
Tiền nhiệm Đường Huyền Tông
Kế nhiệm Đường Đại Tông
Thông tin chung
Tên đầy đủ Hanh (亨)
Niên hiệu Chí Đức (至德) 756-758
Càn Nguyên (乾元) 758-760
Thượng Nguyên (上元) 760-762
Bảo Ứng (寶應) 762
Miếu hiệu Túc Tông (肅宗)
Hoàng tộc Nhà Đường (唐)
Thân phụ Đường Huyền Tông
Thân mẫu Dương Quý Tần (Nguyên Hiến Hoàng Hậu)
Sinh 21 tháng 2, 711(711-02-21)[3][4]
Mất 16 tháng 5, 762 (51 tuổi)[5][6]

Đường Túc Tông (chữ Hán: 唐肃宗, bính âm: Tang Suzong, 21 tháng 2 năm 711 - 16 tháng 5 năm 762), thụy hiệu đầy đủ là Văn Minh Võ Đức Đại thánh Đại Tuyên Hiếu hoàng đế (文明武德大聖大宣孝皇帝), tên thật là Lý Tự Thăng (李嗣升) ([[711 - 727), Lý Tuấn (李玙, 727 - 735), Lý Dư (李璵, 735 - 744) rồi Lý Hanh (李亨, 744 - 762), là vị hoàng đế thứ tám, hay thứ mười[7] của triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Túc Tông vốn là con trai thứ ba của Đường Huyền Tông, vị vua thứ bảy, hay thứ chín của nhà Đường, mẫu thân là Dương Quý tần. Sau khi vua cha đăng cơ, hoàng tử Lý Tự Thăng được ban tước vị Thiểm vương, sau đó đổi lại là Trung vương (727). Năm 738, sau khi người anh thứ hai là Lý Anh bị bức tử do gian thần hãm hại, Lý Tuấn được vua cha phong làm thái tử, sau đó đổi tên thành Lý Hanh. Khi phản tặc An Lộc Sơn chiếm được kinh đô Trường An, Đường Huyền Tông phải chạy sang Thành Đô; Lý Hanh được các đại thần và dân chúng tôn xưng làm Hoàng đế ở Linh Vũ vào ngày 13 tháng 8 năm 756. Trong sáu năm trị vì, hoạt động chính trị chủ yếu của ông tập trung vào việc đánh dẹp loạn An Sử. Tuy nhiên do Túc Tông quá tin tưởng hoạn quan Lý Phụ Quốc, nên đến cuối đời ông, Lý Phụ Quốc đã trở thành quyền thần trong triều, mở ra nạn hoạn quan tham chính trong các triều đại tiếp theo.

Năm 762, không bao lâu sau cái chết của Thượng hoàng Huyền Tông, Túc Tông vì quá đau buồn mà sinh bệnh rồi qua đời vào ngày 16 tháng 5 ở tuổi 51.

Làm thân vương và Thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tự Thăng chào đời vào ngày Ất Hợi năm Cảnh Vân thứ hai đời Đường Duệ Tông (tức 21 tháng 2 năm 711), khi đó, phụ thân ông là Huyền Tông Lý Long Cơ vẫn còn là Hoàng thái tử. Lý Tự Thăng là người con trai thứ ba của Lý Long Cơ, sau hai anh là Lý Tự ThiểmLý Tự Khâm. Mẫu thân ông là Dương Quý tần, hậu duệ nhiều đời của vua Dượng Đế nhà Tùy. Gia tộc họ Dương tuy không còn là quốc thích, nhưng vẫn giữ được một thế lực nhất định. Tổ phụ của của Dương thị, tức cụ ngoại của Lý Tự Thăng, là Dương Sĩ Đạt, một đại thần trong triều đình, được ban tước vị là Trịnh vương. Sang đời tiếp theo, tức ông ngoại của Tự Thăng, là Dương Tri Khánh cũng được bổ làm Túc vệ trong cung, do đó Lý Tự Thăng mang trong mình dòng máu của cả hai triều đại Tùy - Đường.

Vào lúc mẫu thân Tự Thăng là Dương thị có mang, Lý Long Cơ đang bị lép vế trong cuộc đấu tranh chính trị với người cô ruột là Công chúa Thái Bình. Thấy mình liên tục bị công chúa hãm hại, nên khi thấy Dương thị có mang, Lý Long Cơ không hài lòng vì nghĩ rằng việc mình có quá nhiều con có thể trở thành lý do cho công chúa Thái Bình vu khống, nên Lý Long Cơ chuẩn bị một thang thuốc bỏ thai, dự định sẽ kết liễu tiểu hoàng tôn ngay khi chưa chào đời. Tuy nhiên sau đó Lý Long Cơ lại do dự, sau đó lại mộng thấy một vị tiên nhân đến cướp lấy thang thuốc, Long Cơ nghĩ rằng ý trời muốn cho đứa bé ra đời, bèn bỏ ý định.

Năm sau, 712, Lý Long Cơ được vua cha là Đường Duệ Tông truyền ngôi, nhân đó đăng cơ xưng đế, tức Đường Huyền Tông[8][9]. Khi đó Thượng hoàng Duệ Tông vẫn còn nắm quyền, đã ra lệnh phong Lý Tự Thăng làm Thiểm vương. Sang năm 715, Lý Tự Thăng được vua cha phong chức An Tây đại đô hộ, Hà Tây tứ trấn chư Phiên lạc đại sứ. Cựu Đường thư miêu tả ông là người thông minh, nhân ái và hiếu học, nên rất được vua cha yêu quý.

Đầu năm 727, Lý Tự Thăng được đổi phong làm Trung vương, đổi tên là Lý Tuấn. Tháng 5 ÂL cùng năm, Lý Tuấn được phong làm Sóc Phương đại sứ, Thiền Vu đại đô hộ. Năm 728, mẫu thân ông là Dương Quý Tần qua đời[10]. Sang năm 729, khi quân đội hai nước HềKhiết Đan kéo sang xâm phạm biên cương, Lý Tuấn được Đường Huyền Tông phong làm Hà Bắc đạo nguyên soái, cùng Tín An vương Lý Y làm phó, dẫn quân dẹp giặc. Lúc dẫn quân ra đi, Lý Tuấn triều kiến Huyền Tông ở Quang Thuận Môn, và nhân đó được gặp một số nhân vật quan trọng trong triều. Tả thừa tướng Trương Thuyết cùng học sĩ Tôn Thích, Vi Thuật sau lần gặp gỡ Lý Tuấn, đã đánh giá ông có dung mạo giống với Đường Thái Tông, phong thái phi thường, sau này là phúc của xã tắc.

Sau khi xuất quân, Lý Tuấn không nắm quyền lực thật sự trong quân, mà quyền chỉ huy thuộc về Tín An vương. Đến năm 732, khi Hề và Khiết Đan bại trận, Lý Tuấn được tính có quân công, được phong làm Tư đồ. Sang năm 735, ông được đổi tên thành Lý Dư.

Thụ phong thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 737, Hoàng thái tử Lý Anh cùng ba hoàng tử là Ngạc vương Lý Dao, Quang vương Lý Cư bị tố cáo có mưu đồ tạo phản, bị đưa đi lưu đày rồi bị giết[11]. Khi đó, do Võ Huệ Phi được sủng ái và có quan hệ mật thiết với Tể tướng Lý Lâm Phủ, nên Lý Lâm Phủ chủ trương đưa con Huệ Phi là Thọ vương Lý Mạo làm Hoàng thái tử, do đó khiến Huyền Tông do dự rất nhiều. Mãi đến một năm sau, sau khi nghe lời khuyên giải của hoạn quan Cao Lực Sĩ, Huyền Tông quyết định lập người con trai lớn tuổi nhất, tức Lý Dư[12].

Cuối cùng, ngày Canh Tí tháng 6 năm 738, Lý Dư được phong làm Thái tử, đổi tên là Lý Thiệu. Tuy nhiên ông cho rằng chữ Thiệu trùng với tên của nghịch tử thời Lưu Tống là Lưu Thiệu đã giết Tống Văn Đế để đoạt ngôi, do đó xin đổi tên là Dư như cũ. Sang năm 744, ông được ban tên mới là Lý Hanh, và đây cũng là tên kị húy của Túc Tông. Vợ ông là Vi thị được phong làm Thái tử phi.

Tranh chấp với Lý Lâm Phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Do Lý Lâm Phủ ủng hộ Thọ Vương Lý Mạo, nên việc Lý Hanh được lập khiến ông ta không hài lòng, luôn tìm cớ hãm hại ông. Vào năm 746, anh trai của Thái tử phi Vi thị là Vi Kiên do có tranh chấp quyền lực với Lý Lâm Phủ, nên tố cáo Vi Kiên cùng Hoàng Phủ Duy Minh lén lút gặp thái tử ở một ngôi chùa mà không để cho ai biết; lại sai người tố cáo rằng Lý Hanh có mưu đồ xưng đế. Huyền Tông nghe xong nổi giận, liền bắt giam Vi Kiên và Hoàng Phủ Duy Minh. Tuy nhiên sau đó Huyền Tông nghĩ tới việc trước đó từng giết ba con, không muốn sự việc tương tự tái diễn, nên chỉ hạ lệnh đày hai đại thần khỏi triều đình. Lý Hanh được xét vô tội.

Tuy nhiên sau đó, hai người em của Vi Kiên là Binh bộ ngoại lang Vi Chi, Tương tác thiếu tượng Vi Lâm dâng tấu kêu oan cho anh, trong bản tâu ghi rằng thái tử cũng đứng ra bảo vệ cho Vi Kiên. Huyền Tông lại nổi cơn thịnh nộ, bèn cho đày tất cả thành viên trong gia tộc họ Vi xuống phương nam[13]. Bản thân Lý Hanh cũng lâm vào thế bí, đành dâng sớ xin ly hôn với thái tử phi Vi thị và đàn hặc anh em họ Vi. Vi thị phải xuống tóc và làm ni cô trong chùa.[14]. Sang năm sau, nhiều đại thần bị lưu đày cùng anh em họ Vi bị ép phải tự sát.

Cùng năm đó, một sự việc khác lại xảy ra làm lung lay ngôi thái tử của Lý Hanh. Nguyên Lý Hanh có người thiếp của ông là Đỗ thị, con gái đại thần Đỗ Hữu Lân. Con rể Đỗ Hữu Lân là Liễu Tích do có mâu thuẫn từ trước với nhà họ Đỗ, bèn vu cáo Đỗ Hữu Lân lập bùa phép trù ếm Huyền Tông để thái tử sớm được lên ngôi. Lý Lâm Phủ chớp cơ hội, lập tức xin Huyền Tông cho điều tra. Cuối cùng Đỗ Hữu Lân cùng đại thần khác là Vương Tằng bị đánh cho tới chết. Sau đó, Lý Lâm Phủ còn hãm hại Lý UngBùi Đôn Phục, hai đại thầng khác cùng cánh với Lý Hanh, cũng sai đánh chết hai người.

Không lâu sau, mùa hạ năm 747; do có mâu thuẫn từ trước với đại thần Vương Trung Tự và cũng là để đối phó với thái tử, Lý Lâm Phủ lại tố cáo Vương Trung Tự có mưu đồ ép Huyền Tông thoái vị, đưa Lý Hanh lên ngôi. Huyền Tông cả giận, bèn giáng chức của Vương Trung Tự. Ông còn muốn giết luôn Vương Trung Tự, nhưng sau đó bỏ ý định. Về sau, Lý Lâm Phủ cũng nhiều lần muốn hãm hại ông, nhưng hoạn quan Cao Lực Sĩ, người thân cận với Huyền Tông lại ra sức bảo vệ ông, Lý Lâm Phủ chẳng làm được gì.

Tranh chấp với An Lộc Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ giữa những năm Thiên Bảo, Đường Huyền Tông trọng dụng đại tướng người Hồ là An Lộc Sơn.[15]An Lộc Sơn là một người có dã tâm, nhưng để lấy lòng Huyền Tông, hắn thường tỏ ra vụng về và khờ khạo, nên Huyền Tông càng tin dùng hơn. Vào năm 747, khi An Lộc Sơn đến triều yết Huyền Tông, gặp được thái tử, nhưng lại không thèm thi lễ với ông, khiến Lý Hanh rất bực tức. Khi được hỏi, hắn nói chỉ biết trung thành với Hoàng đế chứ không cần biết ai khác. Sau khi được Huyền Tông cho biết thái tử là hoàng đế trong tương lai, An Lộc Sơn vô cùng hoảng sợ, từ đó cho rằng Lý Hanh đã có ác cảm với mình, và lo lắng cho tương lai của hắn sau khi Huyền Tông qua đời, nên gấp rút chuẩn bị lực lượng để phòng bị về sau[16].

Sau khi Lý Lâm Phủ chết 752, Dương Quốc Trung anh họ của Dương Quý Phi (sủng thiếp lúc đó của Huyền Tông)[17], được bổ làm tể tướng. Dương Quốc Trung và Lý Hanh vốn đối đầu nhau, nhưng lại cùng lo lắng khi thấy thế lực của An Lộc Sơn phát triển quá nhanh. Dương Quốc Trung nhiều lần bẩm báo việc này, xin Huyền Tông đề phòng nhưng trước sau Huyền Tông không chịu nghe, mặc dù Lý Hanh cũng đồng ý với đề nghị trên.

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Đăng cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 755, An Lộc Sơn chính thức khởi binh tạo phản. Quân An thế lực lớn mạnh, thắng trận liên tiếp, lần lượt phá vỡ các chốt phòng thủ của Đường triều, từ căn cứ ban đầu là Phạm Dương[18] chiếm được Lạc Dương rồi Đồng Quan. Huyền Tông từng có ý đích thân xuất binh ra chống, nhưng Dương Quốc Trung tâu rằng thái tử có dã tâm lớn, không thể một lúc phó thác hết chính sự cho được. Huyền Tông bèn bỏ lệnh thân chinh.

Đầu năm 756, An Lộc Sơn tiếm xưng hoàng đế, lấy quốc hiệu là Yên[19]. Ngày 13 tháng 7 năm đó, Huyền Tông rời khỏi kinh thành Trường An, bỏ chạy về phía tây. Đến ngày 15 tháng 7, do bất mãn với anh em Dương Quý Phi, các binh sĩ do Trần Huyền Lễ dẫn đầu đã giết Quốc Trung và ép Huyền Tông phải xử tử Quý phi ở Mã Ngôi Dịch[20]. Ban đầu Huyền Lễ có ý xin thái tử đứng ra giúp chuyện này, nhưng ông không dám làm.

Khi Thượng sắp bỏ về phía tây, các phụ lão ở Trường An ra sức níu giữ. Huyền Tông bèn sai Lý Hanh ở lại an ủi bá tánh. Lúc đó, hoạn quan thân cận Lý Phụ Quốc cùng con trai thứ ba của Túc Tông là Kiến Ninh vương Lý Đàm lại khuyên ông không nên theo Huyền Tông vì nếu cả hoàng tộc đều bỏ trốn thì chẳng khác gì giao Trung Nguyên cho giặc. Lý Hanh tâu xin Huyền Tông, Huyền Tông chấp nhận, để Lý Hanh tiếp tục ở lại nhưng bản thân lại tiếp tục bỏ trốn. Từ đó Huyền Tông và thái tử rời khỏi nhau và lãnh đạo hai đội quan độc lập.

Đội quân của Lý Hanh sau đó chiếm lại được vùng Linh Vũ và đóng ở đó. Đến ngày 13 tháng 8, dưới sự ủng hộ của các đại thần và tướng lĩnh, Lý Hanh chính thức đăng cơ xưng đế, tức là Đường Túc Tông. Ông tôn vua cha Huyền Tông làm Thái thượng hoàng[21]. Trong khi đó Thượng hoàng ở phía tây không biết chuyện ấy, đã ra lệnh phong ông làm Thiên hạ binh mã nguyên soái, Đô thống Sóc Phương, Hà Đông, Hà Bắc, Bình Lư đẳng tiết độ binh mã để chỉ huy việc khôi phục hai kinh. Đến giữa tháng 9, khi hay tin Túc Tông đăng cơ, Thượng Hoàng quyết định công nhận ngôi vị của ông, và truy phong cho Dương Quý Tần là Nguyên Hiến hoàng hậu. Về sau, để tránh bị nghi ngờ rằng mình và Túc Tông đang đối đầu nhau, Thượng hoàng đã hạ lệnh cho một số văn thần võ tướng được phép rời khỏi Thành Đô, đến Linh Vũ để phụng sự cho Túc Tông.

Giết Kiến Ninh vương[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi đăng cơ, Túc Tông được hai tướng Quách Tử NghiLý Quang Bật, vốn đang thắng thế trước quân Yên ở Hà Bắc ủng hộ. Hai tướng điều lực lượng về Linh Vũ để giúp ông. Ông bèn phong Lý Quang Bật làm Hộ bộ thượng thư bắc bộ lưu thú, kiêm Đông bình chương sự; Quách Tử Nghi làm Vũ bộ thượng thư. Đồng thời ông triệu ẩn sĩ Lý Bí, cũng là bạn cũ về triều, phong làm Tham mưu quân quốc nguyên soái phủ hành quan trưởng sử. Túc Tông thấy rằng người con trai thứ ba của mình là Kiến Ninh vương Lý Đàm có tài năng, muốn phong làm Đại nguyên soái, nắm quyền chỉ huy cao nhất trong quân. Nhưng Lý Bí cho rằng Kiến Ninh vương không phải con trưởng, nếu lập làm Nguyên soái sẽ khiến thiên hạ ủng hộ, sau này Túc Tông không muốn phong kiến Ninh vương làm thái tử cũng không được; sau đó khuyên ông nên phong chức Nguyên soái cho hoàng tử trưởng là Quảng Bình vương Lý Thục làm Nguyên soái. Túc Tông nghe theo, phong cho Quảng Bình Vương làm thiên hạ binh mã Đại nguyên soái, hai tướng Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật cùng quân đội của họ đều thuộc quyền thống lãnh của nguyên soái.[22].

Nội giàm Lý Phụ Quốc liên kết với vợ Túc Tông là Trương Hoàng hậu, chuyên quyền trong triều. Lại thêm hoạn quan Biên Lệnh Thành vốn đầu hàng quân Yên, lúc đó cũng trở về. Lý Bí tâu với Túc Tông rằng Lệnh Thành là kẻ phản phúc. Túc Tông bèn hạ lệnh giết chết. Còn Hoàng hậu và Phụ Quốc chuyên quyền, kiến Ninh vương nhiều lần tấu với Huyền Tông xin trừ đi. Trương Hoàng hậu tức giận, vu cho Kiến Ninh vương có ý cướp ngôi thái tử. Túc Tông bèn hạ lệnh ép Kiến Ninh vương phải tự sát vào giữa năm 757.

Thu hồi hai kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Mưu trừ Sử Tư Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh dẹp An Sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạn quan khuynh quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chí Đức (至德) 756-758
  • Càn Nguyên (乾元) 758-760
  • Thượng Nguyên (上元) 760-761
  • Bảo Ứng (寶應) 762

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Đường Huyền Tông
  • Mẹ: Dương Thái Tần (truy tôn Nguyên Hiến hoàng hậu)
  • Thê thiếp
    • Thái tử phi Vi thị
    • Trương Hoàng hậu
    • Chương Kính hoàng hậu Ngô thị, thân mẫu của Đường Đại Tông
    • Thôi phi
    • Đoàn Tiệp dư
    • Trần Tiệp dư
    • Đổng mĩ nhân (738 - 756), được truy tặng là Tiệp dư
    • Trương mĩ nhân
    • Bùi Chiêu nghi
    • Đỗ Lương đế
    • Tôn cung nhân
    • Trương cung nhân
    • Vương cung nhân
  • Con trai
    • Quảng Bình vương - Sở vương - Thành vương - Hoàng Thái tử - Đường Đại Tông Lý Dự, mẹ là Chương Kính hoàng hậu
    • Nam Dương quận vương - Triệu vương - Việt vương Lý Hệ, mẹ là Tôn cung nhân (bị Lý Phụ Quốc giết năm 762)
    • Kiến Ninh quận vương Lý Tân, truy Tề vương - Thừa Thiên hoàng đế (? - 757), mẹ là Trương Cung nhân, bị Túc Tông ép phải tự sát, sau được truy phong hoàng đế năm 769
    • Tây Bình quận vương Lý 佖, mẹ là Vương cung nhân, mất sớm, truy phong Vệ vương năm 762
    • Dĩnh Xuyên quận vương - Duyện vương Lý Giản (? - 759), mẹ là Vi phi
    • Đông Dương quận vương - Kính vương Lý Đĩnh, mẹ là Trương mĩ nhân, mất năm 78
    • Linh vương quận vương - Vận vương Lý Vinh
    • Tương vương Lý 僙, mẹ là Bùi Chiêu nghi
    • Kỉ vương Lý Thùy, mẹ là Đoàn Tiệp dư
    • Triệu vương Lý Ti, mẹ là Thôi phi
    • Hưng vương - Cung Ý thái tử Lý Thiệu, mất năm 760, mẹ là Trương Hoàng hậu
    • Định vương Lý Đồng, mẹ là Trương hoàng hậu, mất năm 762
    • Tống vương Lý Hi
    • Thục vương Lý Khôi
  • Con gái: Theo Tân Đường thư, Túc Tông có 7 vị công chúa[23]
    • Trường Lạc công chúa - Tức quốc công chúa (lấy Lư Trạm)
    • Ninh Quốc công chúa - Tiêu quốc công chúa (lấy Trịnh Tốn, Tiết Khang Hành, sau gả sang Hồi Hột)
    • Hòa Chánh công chúa (con Chương Kính hoàng hậu, lấy Liễu Đàm)
    • Đại Ninh quận chúa - Đàm quốc công chúa (lấy Trương Thanh, mất vào năm Trinh Nguyên)
    • Nghi Ninh công chúa - Kỉ Quốc công chúa Lý Thục, tự Thượng Huyền (lấy Trịnh Phái, mất vào năm Nguyên Hòa)
    • Bảo Chương công chúa - Vĩnh Hòa công chúa (con Vi phi, lấy Vương Thuyên, mất vào năm Đại Lịch)
    • Diêu Quang công chúa - Cáo Quốc công chúa (lấy Bùi Huy, sau lấu Tiêu Thăng)
    • Vĩnh Mục công chúa (Con Vi phi)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sau nổi dậy của An Lộc Sơn, hoàng đế Túc Tông được binh sĩ đưa lên làm vua ngày 13 tháng 8 năm 756, nhưng cha đẻ của ông là Đường Huyền Tông và đoàn tùy tùng của ông, những người chạy tới Tứ Xuyên, chỉ nhận được tin tức vào ngày 10 tháng 9 năm 756, và ngày đó là ngày kết thúc trị vì của Huyền Tông trên thực tế. Cho tới khi Huyền Tông nhận được tin tức về việc Túc Tông lên ngôi thì ông vẫn tiếp tục ra sắc lệnh như là một hoàng đế.
  2. ^ 兩千年中西曆轉換
  3. ^ 兩千年中西曆轉換
  4. ^ Đường thư, quyển 10.
  5. ^ 兩千年中西曆轉換
  6. ^ Tư trị thông giám, quyển 222.
  7. ^ Trước đó hai vị vua Đường Trung TôngĐường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục
  8. ^ Cựu Đường thư, quyển 8, Bản kỉ 8
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 210
  10. ^ Tân Đường thư, quyển 76, liệt truyện quyển 1
  11. ^ Cựu Đường thư, quyển 107, liệt truyện 57
  12. ^ Thực ra sinh trước ông vẫn còn có hoàng tử Lý Tông, nhưng không hiểu sao trong Tư trị thông giám lại cho Lý Dư là con đích trưởng
  13. ^ Tư trị thông giám, quyển 215
  14. ^ Tân Đường thư, quyển 76, liệt truyện 1
  15. ^ Nguyên tên là A Lạc Sơn, người Đột Quyết, xuất thân là tướng dưới trướng Trương Thủ Khuê
  16. ^ Cựu Đường thư, quyển 200, liệt truyện 150
  17. ^ Không nên lẫn lộn giữa Dương Quý Phi với Dương Quý Tần, thân mẫu của Lý Hanh
  18. ^ Bắc Kinh, Trung Quốc hiện nay
  19. ^ Tân Đường thư, quyển 225, liệt truyện 150
  20. ^ Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  21. ^ Cựu Đường thư, quyển 9
  22. ^ Tư trị thông giám, quyển 218
  23. ^ Tân Đường thư, quyển 83. liệt truyện quyển 7