Đường cong sinh tồn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một biểu thị của ba loại đường cong sinh tồn chính.

Đường cong sinh tồn là một đồ thị chỉ tỉ lệ sinh tồn của một loại động vật nào đó. Đường cong sinh tồn có thể được tạo ra từ cohort (thống kê) (là một nhóm có chung một điểm gì đó, thường là tuổi) dựa trên bản sự sống.

Có ba loại đường cong sinh tồn, được nhắc đến như "Loại I", "Loại II", "Loại III".

  • Loại I, đường cong sinh tồn có những đặc điểm như sự sinh tồn cao lúc ban đầu và ở giữa nhưng đến cuối đời thì sự sinh tồn sẽ tụ một cách nhanh chóng. Con người là một ví dụ điển hình của loại I này.
  • Loại II, đường cong này là ở giữa loại I và loại III, sự sinh tồn không liên quan gì đến tuổi tác, phụ thuộc khá nhiều vào sự ngẫu nhiên. Một số loài chim có đường cong sinh tồn loại này.
  • Loại III, sự chết xảy ra nhiều nhất lúc ban đầu nhưng sau đó nếu những ai sống sót được thì khả năng sinh tồn của họ rất cao. Loại này là đặc điểm của những loài động vật có số lượng sinh sản rất cao (lý thuyết r/K). Một ví dụ cho loại này là bạch tuộc, muỗi

Tỉ lệ của loài động vật đó đường tính theo đường thẳng Y, tỉ lệ được tính khi so sánh với 1000 thành viên của loài động vật đó. Còn đường X ngang là khả năng cao nhất mà động vật đó có thể sống được.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]