Đường sắt Phan Rang - Đà Lạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một xe lửa đi trên tuyến đường sắt Đà Lạt-Tháp Chàm.

Đường sắt Phan Rang-Đà Lạt hay đường sắt Tháp Chàm-Đà Lạt là một tuyến đường sắt đã ngưng sử dụng, từng nối Đà Lạt với tuyến đường sắt quốc gia từ Hà Nội đến Sài Gòn tại Phan Rang, Ninh Thuận.

Thi công[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1898. Đường sắt được khởi công năm 1908 theo lệnh của toàn quyền Paul Doumer. Bắt đầu, thi công đoạn 38 km giữa Tháp ChàmXóm Gòn. Năm 1916 những chuyến xe lửa đầu tiên bắt đầu hoạt động mỗi tuần 2 chuyến. Năm 1917 được nối dài đến tận Sông Pha (Krông Pha) – dưới chân đèo Ngoạn Mục. Năm 1922, công ty thầu khoán Châu Á tiến hành xây dựng đường sắt nối Sông Pha tới Trạm Hành – Đà Lạt. Năm 1928, thi công 10 km khó khăn nhất giữa Krông Pha và đèo Eo Gió (Bellevue) được hoàn thành. Bốn năm sau, vào năm 1932, đoạn Đran được hoàn thành, tuyến đường chính thức đi vào hoạt động. Tổng kinh phí xây dựng là 200 triệu Franc vào lúc bấy giờ.

Km[1] Tên ga TP, huyện,
phường
Độ cao[2] Ghi chú Bản đồ
0 Tháp Chàm Phan Rang-Tháp Chàm 32 m (105 ft)[nb 1] Đi Đường sắt Bắc Nam bản đồ
22 Tân Mỹ Tân Mỹ bản đồ
41 Sông Pha Sông Pha 186 m (610 ft) Krongpha[2] bản đồ
47 Cà Bơ Cà Bơ 663 m (2.175 ft) K'Beu,[2] tại Đèo Ngoạn Mục bản đồ
51 Eo Gió Eo Gió 991 m (3.251 ft) Bellevue,[2] tại Đèo Ngoạn Mục bản đồ
56 Đơn Dương Đơn Dương 1.016 m (3.333 ft) Dran[2] bản đồ
62 Trạm Hành Trạm Hành 1.514 m (4.967 ft) Arbre Broyé[2] bản đồ
66 Cầu Đất Cầu Đất 1.466 m (4.810 ft) Entrerays[2] bản đồ
72 Xuân Thọ Xuân Thọ, TP. Đà Lạt 1.402 m (4.600 ft) Le Bosquet[2] bản đồ
77 Trại Mát Trại Mát, TP. Đà Lạt 1.550 m (5.090 ft) bản đồ
84 Đà Lạt Phường 10, Đà Lạt 1.488 m (4.882 ft)  bản đồ

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Một đầu máy hơi nước ở Ga Đà Lạt.

Để qua được đèo dốc người ta phải thiết kế những bánh răng cưa lắp thêm vào trong đầu máy. Tuyến đường có 16 km đường sắt răng cưa, vượt độ cao 1.500m trên mực nước biển với độ dốc thường xuyên 12%. Vượt qua 5 hầm, có hầm dài đến 600m và nhiều cầu xe lửa khác. Đường sắt được vận hành bằng 11 đầu máy hơi nước hiệu Fuka của Thuỵ Sĩ.

Nhà ga Đà Lạt được xây dựng và hoàn thành vào năm 1938. Một nhà ga đẹp, kiến trúc từ thời Pháp thuộc gần như còn nguyên vẹn với ba mái vút cao xuất phát từ ý tưởng của hai kiến trúc sư người Pháp là Moncet và Revéron mô phỏng ngọn núi Lang Biang. Xưa mỗi ngày có hai đôi tàu chạy tuyến Đà Lạt – Nha Trang, Đà Lạt – Sài Gòn với ba toa khách, một toa tàu hàng và ngược lại. Hành khách bao giờ cũng đông với phần lớn là người Pháp và quan chức người Việt. Nếu đi từ Sài Gòn sẽ mất khoảng nửa ngày để đến Đà Lạt.

Bỏ phế và xoá sổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến đường sắt đã bị ngưng từ năm 1972 do chiến sự ác liệt ở miền Nam khiến cho nhu cầu vận chuyển đường sắt gặp khó khăn.

Giữa năm 1975, khi đất nước thống nhất, đường sắt được vận hành trở lại nhưng chỉ chạy được đúng 7 chuyến từ Đà Lạt đến cầu Tân Mỹ (Ninh Sơn) thì bị ngưng lại vì không hiệu quả kinh tế.

Năm 1986, Liên hiệp Đường sắt Việt Nam đã cho công nhân tháo ray và tà vẹt để phục vụ sửa chữa Đường sắt Thống Nhất. Phần còn lại bị bán làm sắt vụn dần dần từ những năm 1980 đến 2004, khi cầu đường sắt Đ'ran bị tháo dỡ để bán sắt vụn.

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, chỉ còn một phần của tuyến đường sắt này là đường sắt Đà Lạt-Trại Mát dài 7 km còn hoạt động để phục vụ khách du lịch. Vào tháng 11 năm 2006, tỉnh Lâm Đồng có dự án khôi phục tuyến đường sắt này, được dự trù kinh phí 5.000 tỉ đồng và hoàn tất năm 2015.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ở Sân bay Phan Rang.
Tài liệu tham khảo
  1. ^ H. Lartilleux (1953). Géographie universelle des transports 1. Chaix. 
  2. ^ a ă â b c d đ e Dalat–Song Pha Cog Railway Map / Vertical Map. Từ “A Brief History of Dalat Railroad”. Viet Nam Air Force Model Aircraft of Minnesota. 7 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]