Đại Nhật kinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thánh điển Phật giáo
Tam.jpg

Kinh

Luận


Đại Nhật kinh (大日經, sa. mahāvairocanābhisaṃbodhi -vikurvitādhiṣṭhāna -vaipulyasūtrendrarāja -nāma -dharmaparyāya, mahāvairocanābhi -saṃbodhisūtra, mahāvairocanābhisaṃbodhivikurvitādhiṣṭhāna -vaipulyasūtra) là một bộ kinh quan trọng của Mật tông. Kinh được Đại Sư Thiện Vô Uý (zh. 善無畏, sa. Śubhākarasiṃha) dịch sang Hán văn vào đời Đường, năm 724, với sự hỗ trợ của Sư Nhất Hạnh (一行) và Bảo Nguyệt (寶月). Kinh mang số 848 và được xếp vào sách thứ 18 (1-55) của Đại Chính tân tu đại tạng kinh. Tên gọi đầy đủ của kinh là Đại Tì-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh (大毘盧遮那成佛神變加持經), viết tắt là Tì-lô-giá-na thành Phật kinh (毘盧遮那成佛經) hoặc Đại Tì-lô-giá-na kinh (大毘盧遮那經). Đại Nhật kinh bao gồm 7 quyển với 6 quyển đầu là chính văn và quyển thứ bảy nói về nghi thức hành lễ. Kinh này kết hợp với Kim cương đỉnh kinh (Vajraśekhara-sūtra) và Tô tất địa kinh (Susiddhikara-mahātantra-sād-hanopāyika-paṭala) tạo thành pháp tu cốt lõi của Mật Tông.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sự ghi nhận từ các tư liệu Hán ngữ thì bộ kinh này do Sư Vô Hành đi sang Ấn Độ để thỉnh về. Sư viên tịch đột ngột (674) trên đường trở về nước. Triều đình đã cho người mang kinh về lưu giữ tại chùa Hoa NghiêmTrường An. Đến năm 724, Đường Huyền Tông đã hạ chiếu thỉnh hai đại sư là Thiện Vô ÚyNhất Hạnh đến Trường An dịch bộ kinh này. Sau khi dịch xong bộ kinh gồm 6 quyển này, các Sư đã bổ sung nghi quỹ cúng dường vào thành quyển thứ 7. Đây là bộ kinh Đại Nhật gồm 7 quyển được lưu hành phổ biến cho tới hiện nay.

Nguồn gốc ban đầu của kinh này chứa nhiều yếu tố huyền thoại và có hai thuyết như sau: Thuyết thứ nhất cho rằng bộ kinh này được lưu giữ tại tháp sắt ở Nam An, rồi được Thiền sư Long Thọ thỉnh về. Thuyết thứ hai cho rằng bộ kinh này được lưu giữ bí mật ở trong một hang đá trên núi của xứ Bột Lỗ La. Khi các con khỉ mang kinh đi phơi bị gió cuốn bay thì một tiều phu nhặt được và dâng cho vua sở tại. Nhà vua cho sao chép kinh này và trả lại bản gốc cho khỉ. Sau đó nhà vua đã tặng cho một tu sĩ Du già. Từ đó bản kinh được lưu hành.

Tông chỉ & Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung kinh trình bày pháp môn tu giải thoát dựa trên tông chỉ: Tâm Bồ-đề là nhân, Đại bi là gốc rễ, Phương tiện là cứu cánh. Toàn bộ kinh xoay quanh các pháp đốn, tiệm qua phương tiện chữ A (nguyên gốc là thể chữ Siddham). Lấy cái bất sinh làm gốc để khai mở trí vô sinh và chứng tất địa vô tướng. Tất cả 36 phẩm trong 7 quyển được phân chia như sau:

  • Quyển I:
    • Phẩm I: Nhập chân ngôn trụ tâm
    • Phẩm II: Nhập Mạn Trà La - cụ duyên chân ngôn
  • Quyển II:
    • Phẩm II (chi khác): Đủ duyên nhập Mạn Trà La
    • Phẩm III: Ngưng trừ chướng nạn
    • Phẩm IV: Tạng chân ngôn phổ thông
  • Quyển III:
    • Phẩm V: Thành tựu thế gian
    • Phẩm VI: Xuất hiện tất địa
    • Phẩm VII: Thành tựu tất địa
    • Phẩm VIII: Hành Mạn Trà La, chuyển tự luân
  • Quyển IV:
    • Phẩm IX: Mật ấn
  • Quyển V:
    • Phẩm X: Tự luân
    • Phẩm XI: Mạn Trà La bí mật
    • Phẩm XII: Nhập vào pháp của Mạn Trà La bí mật
    • Phẩm XIII: Nhập vào địa vị của Mạn Trà La bí mật
    • Phẩm XIV: Tám ấn bí mật
    • Phẩm XV: Cấm giới Trì minh
    • Phẩm XVI: Trí chân ngôn của A Xà Lê
    • Phẩm XVII: Bố tự
  • Quyển VI
    • Phẩm XVIII: Thọ nhận nơi học phương tiện
    • Phẩm XIX: Nói về sinh 100 chữ
    • Phẩm XX: Quả tương ưng của 100 chữ
    • Phẩm XXI: Sự lập thành của 100 chữ
    • Phẩm XXII: Thành tựu việc trì tụng 100 chữ
    • Phẩm XXIII: Pháp chân ngôn 100 chữ
    • Phẩm XXIV: Nói về tính Bồ-đề
    • Phẩm XXV: Ba Tam Muội Gia
    • Phẩm XXVI: Nói về Như Lai
    • Phẩm XXVII: Pháp hộ ma thế và xuất thế
    • Phẩm XXVIII: Nói về Tam muội bổn tôn
    • Phẩm XXIX: Nói về Tam muội vô tướng
    • Phẩm XXX: Trì tụng thế, xuất thế
    • Phẩm XXXI: Chúc lụy
  • Quyển VII
    • Phẩm thứ I: Nơi học hạnh chân ngôn trong pháp thứ tự cúng dường
    • Phẩm thứ II: Tăng ích thủ hộ thanh tịnh hạnh
    • Phẩm thứ III: Nghi thức cúng dường
    • Phẩm thứ IV: Pháp tắc trì tụng
    • Phẩm thứ V: Sự nghiệp chân ngôn

Các bản chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

Bản chú giải của kinh này do Thiện Vô Úy giảng và Nhất Hạnh thuật ký. Hiện nay trong tạng kinh Hán ngữ tồn tại hai phiên bản: một phiên bản nằm trong Vạn tự tục tạng kinh có tên Đại Nhật kinh nghĩa thích gồm 14 quyển mang số hiệu 0438; phiên bản còn lại nằm trong Đại Chính tân tu đại tạng kinh có tên Đại Tỳ Lô Giá Na thành Phật kinh sớ gồm 20 quyển mang số hiệu 1796.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hodge, Stephen (transl.): The Mahā-vairocana-abhisaṃbodhi tantra with Buddhaguhya's Commentary. London: Routledge Curzon, 2003.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Thiện Vô Úy và Nhất Hạnh Đại Tỳ Lô Giá Na thành Phật thần biến gia trì kinh. Mật Tạng Bộ I, No.848.
  • Huyền Thanh (dịch) Đại Nhật thành Phật thần biến gia trì kinh. 2006
  • Như Pháp Quân (dịch) Nghiên cứu kinh Đại Nhật theo bản tiếng Pháp của R.Tajima

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán