Đại bàng nâu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại bàng nâu
2012-tawny-eagle-0.jpg
Ảnh chụp đại bàng nâu ở công viên quốc gia Etosha, Namibia
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Accipitriformes
Họ (familia) Accipitridae
Chi (genus) Aquila
Loài (species) A. rapax
Danh pháp hai phần
Aquila rapax
(Temminck, 1828)
Aquila rapax area.png
Danh pháp đồng nghĩa
  • Aquila rapax rapax

Đại bàng nâu (danh pháp khoa học: Aquila rapax) là một loài chim săn mồi lớn trong họ Ưng. Đây là loài có liên quan chặt chẽ với loài đại bàng hung (Aquila nipalensis) và trước đây chúng đã từng coi là hai phân loài của cùng một loài. Sau đó, chúng đã được chia ra dựa trên hình thái và giải phẫu học.[2][3][4] Dựa trên nghiên cứu phân tử chỉ ra rằng hai loài có sự khác biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau[5]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Nó sống tập trung chủ yếu ở phía Bắc và phía Nam của sa mạc Saharachâu Phi, trên khắp vùng nhiệt đới ở Tây Nam Á, Ấn Độ. Môi trường sống của loài này là khô như sa mạc, bán sa mạc, thảo nguyên, hoặc xavan.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một loài đại bàng lớn mặc dù bị đánh giá là loài nhỏ trong chi Aquila. Đại bàng nâu dài 60–75 cm (24–30 in), sải cánh đạt 159–190 cm (63–75 in). Trọng lượng có thể dao động từ 1,6 đến 3 kg (3,5 đến 6,6 lb), so với đại bàng hung thì đại bàng nâu có kích thước nhỏ hơn.[6][7] Cơ thể của chúng bao trùm bởi màu lông nâu, phần lưng màu hunglông vũđuôi có màu đen.

Chim chưa trưởng thành có màu sắc ít tương phản hơn so với những con trưởng thành, nhưng cả hai đều cho thấy sự đa dạng màu sắc của bộ lông.

Đại bàng nâu ăn rất đa dạng, từ các loại thức ăn tươi sống đến các xác thối. Con mồi của chúng bao gồm các loài động vật có vú nhỏ như thỏ, sóc, các loài bò sát và các loài chim họ Gà Phi. Chúng cũng ăn cắp cả thức ăn của các loài chim săn mồi khác. Tuy tiếng kêu của loài này giống như một con quạ nhưng chúng là loài chim ít khi kêu.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BirdLife International (2013). Aquila rapax. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ Clark, W. S. (1992): The taxonomy of Steppe and Tawny Eagles, with criteria for separation of museum specimens and live eagles. Bull. B.O.C. 112: 150–157
  3. ^ Olson, Storrs L. (1994): Cranial osteology of Tawny and Steppe Eagles Aquila rapax and A. nipalensis. Bull. B.O.C. 114: 264–267
  4. ^ Sangster, George; Knox, Alan G.; Helbig, Andreas J. & Parkin, David T. (2002): Taxonomic recommendations for European birds. Ibis 144(1): 153–159 doi:10.1046/j.0019-1019.2001.00026.x PDF fulltext
  5. ^ http://www.globalraptors.org/grin/SpeciesResults.asp?specID=8167
  6. ^ Raptors of the World by Ferguson-Lees, Christie, Franklin, Mead & Burton. Houghton Mifflin (2001), ISBN 0-618-12762-3.
  7. ^ [1] (2011).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]