Đại học Y Hà Nội
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Tên gọi khác | |
|---|---|
| Khẩu hiệu | |
| Năm thành lập | 1902 |
| Loại hình | Đại học Y khoa |
| Giám đốc | GS. TS. Nguyễn Lân Việt |
| Hiệu trưởng | {{{Hiệu trưởng trường}}} |
| Giáo viên | |
| Học sinh | |
| Địa chỉ | 1 đường Tôn Thất Tùng Quận Đống Đa |
| Thành phố | Hà Nội |
| Tỉnh | |
| Nước | Việt Nam |
| Điện thoại | |
| Website | www.vnu.edu.vn |
Đại học Y khoa Hà Nội là một trường đại học y khoa tại Hà Nội, và hiện nay là trường đại học y khoa có qui mô lớn nhất tại Việt Nam. Trường được thành lập năm 1902 bởi chính phủ Pháp với hiệu trưởng đầu tiên là Alexandre Yersin. Đại học đã được trao tặng Huân chương Sao Vàng nhân dịp kỷ niệm 105 năm ngày thành lập trường vào ngày 14 tháng 11 năm 2007.
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
Đại học Y Hà Nội, với tên cũ là Đại học Y Đông Dương, được thành lập năm 1902 và là đại học theo giáo dục phương Tây đầu tiên của Việt Nam. Nó cũng là trường đại học thứ hai trong lịch sử Việt Nam, sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Trước đây, trường đặt tại đường Lê Thánh Tông, và đằng sau trường là bệnh viện thực nghiệm nay mang tên bệnh viện 108. Năm 1945, Trường đổi tên thành Đại học Y Việt Nam. Năm 1961, trường Đại học Dược Hà Nội tách ra và lấy khuôn viên này, trường Đại học Y Hà Nội chuyển đến số 1 đường Tôn Thất Tùng và ở đó cho đến nay, cạnh Bênh viện Bạch Mai. Hiện tại, nó cũng có cơ quan nằm trong Bệnh viện Việt Đức.
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cơ sở thực nghiệm của Đại học Y Hà Nội, đã được đưa vào hoạt động năm 2007.
[sửa] Đội ngũ cán bộ
Gồm có 900 cán bộ giảng dạy và công chức: 560 cán bộ có trình độ trên đại học và sau đại học (trong đó có 29 Giáo sư, 86 Phó giáo sư, 212 Tiến sĩ, 176 Thạc sĩ, 22 BSCKII, 35 BSCKI)
[sửa] Thành tích và hợp tác
- Tính đến năm 2007 trường đã đào tạo trên 17.000 bác sĩ chính qui, khoảng 10 ngàn học viên sau đại học.
- Trường phát triển những mũi nhọn của y học chuyên sâu như tim mạch, ghép tạng... một mặt phát triển những nghiên cứu của sức khoẻ cộng đồng, mở rộng hợp tác đa phương với hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới như Pháp, Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Điển, Australia, Indonesia, Nhật Bản...để du nhập công nghệ mới.
- Trường Đại học Y trong thời chiến đã cung cấp đầy đủ số lượng bác sĩ cho các mặt trận và các vùng tự do. Những bác sĩ tốt nghiệp trong giai đoạn này, sau này đều trở thành lực lượng nòng cốt của nền y học Việt Nam.
- Cán bộ: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều người đã vào Sài Gòn để đảm nhiệm chức vụ quản lý và giảng dạy tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
[sửa] Hướng nghiên cứu
- Nghiên cứu ứng dụng hoặc chuyển giao công nghệ mới, các kỹ thuật nuôi cấy, bảo quản mô phôi và tế bào, ưu tiên cho tế bào gốc để phục vụ chẩn đoán, điều trị và dự phòng.
- Nghiên cứu ứng dụng y sinh học phân tử vào chẩn đoán và điều trị.
- Nghiên cứu tạo ra các sản phẩm sinh học, bán tổng hợp và tổng hợp phục vụ cho chẩn đoán, điều trị và dự phòng với các bước khác nhau.
- Nghiên cứu các giải pháp phát hiện bệnh sớm, các yếu tố nguy cơ và các biện pháp can thiệp nhằm chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- Thực hiện các mũi nhọn khoa học công nghệ của Nhà nước và ngành trên cơ sở phục vụ cộng đồng, xã hội nhằm nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Tập trung nghiên cứu lĩnh vực y sinh học phân tử và một số bệnh di truyền, chuyển hóa, nội tiết (đái tháo đường...) và một số bệnh khác như bệnh tim mạch, ung thư, tâm thần...
[sửa] Liên kết ngoài
| Bài này còn sơ khai. Bạn có thể góp sức viết bổ sung cho bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi bài. |

