Đại hồng thủy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Một minh họa về cơn Đại hồng thủy của Gustave Doré

Đại hồng thủy là tai họa khủng khiếp được nhắc đến trong nhiều tôn giáothần thoại; đây là một trận lũ lụt lớn và được xem như sự trùng phạt của Chúa đối với những tội lỗi của loài người.

[sửa] Giả thiết khoa học

Khái niệm Đại hồng thủy được các nhà khoa học định nghĩa như là sự biển tiến vào các vùng lục địa thấp do khí hậu Trái Đất ấm dần và băng tan (gián băng) ở hai phía cực trong một khoảng thời gian 8 - 10 nghìn năm trước của lịch sử Trái Đất. Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học đã xác định khá chính xác các lần biển tiến, và biển lùi do khí hậu Trái Đất biến đổi dựa vào các công trình nghiên cứu khảo cổ học, địa chất học, lịch sử học...

Đối nghịch với Đại hồng thủy là thời kỳ thuộc thời kỳ băng hà, khi đó Trái Đất có nhiệt độ thấp khiến lượng nước của các đại dương mất dần do lượng băng được liên tục bổ sung vào đất liền mà thiếu sự tan chảy.

[sửa] Hồng thủy trong Kinh thánh

Đại hồng thủy khởi sự vào năm 1656 trước công nguyên, xảy ra do hình phạt của Đức Chúa Trời đối với loài người. Nước dâng lên cao khỏi núi khoảng 15 thước vào ngày 17 tháng 2, mưa trọn 40 ngày 40 đêm và nước dâng lên liên tục trong 157 ngày.

Theo Kinh Thánh Cựu Ước thì sau Đại hồng thủy, chỉ có gia đình ông Nô-ê còn sống sót cùng các loài vật mỗi giống một cặp (giống đực và cái), trên con thuyền Nô-ê.

Nước tàn phá mọi thứ, tranh Gustav Dore
Thuyền Nô-e; tranh Gustav Dore

[sửa] Tìm kiếm con thuyền