Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV hay Đại hội đại biểu toàn quốc lần IV Đảng cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976Hà Nội. Tham dự đại hội có tất cả là 1008 đại biểu chính thức 4 thay mặt cho 1.550.000 đảng viên của cả hai miền đất nước, cùng với sự có mặt của nhiều Đảng Cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV diễn ra trong bối cảnh cuộc Kháng chiến chống Mỹ đã đạt được thắng lợi[1]. Hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn 20 năm chia cắt từ Hiệp định Geneve 1954 bằng việc hiệp thương của hai nhà nước tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam từ sau 30 tháng 4 năm 1975Việt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa Miền nam Việt Nam.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội đã thảo luận, đánh giá quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội trên toàn đất nước. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, gồm:

  • Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa
  • Đường lối xây dựng kinh tếtrong thời kì quá độ

Những đường lối này được Đại hội đề ra dựa trên cơ sở kinh nghiệm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong 21 năm (1954-1975), nhất lả xúât phát từ đặc điểm tình hình đất nước và thế giới trong giai đọan cách mạng mới.[2]. Đại hội nêu 3 đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam, mà đặc điểm lớn nhất là: "Nước ta vẫn đang trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xúât nhỏ tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đọan phát triển Tư bản chủ nghĩa." Đặc điểm này quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để, đồng thời cũng quy định tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp trong quá trình đó.

Nhiệm vụ cách mạng miền Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Miền Bắc do đã có 21 năm đi lên Chủ nghĩa xã hội từ 1954, nên trong giai đọan này phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xúât xã hội chủ nghĩa. Góp phần cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Nhiệm vụ cách mạng miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Do mới giải phóng, và trong suốt thời kì Việt Nam Cộng Hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam nền kinh tế miền nam trong chừng mực phát triển theo hướng tư bản chú nghĩa, nhưng về cơ bản vẫn mang tính chất của kinh tế nông nghiệp, sản xúât nhỏ và phân tán, phát triển không cân đối, lệ thuộc vào viện trợ bên ngòai. Đại hội quyết định miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, góp phần cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội[3].

Kế họach 5 năm 1976-1980[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm thực hiện mục tiêu đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đề ra Kế họach 5 năm 1976-1980 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của Kế họach, là xây dựng Chủ nghĩa xã hội và cải tạo quan hệ sản xúât xã hội chủ nghĩa, nhằm hai mục tiêu cơ bản:

  • Xây dựng một bước cơ sở vật chất – kĩ thuật của Chủ nghĩa xã hội
  • Bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết do Lê Duẩn làm Tổng Bí thư.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là Đại hội đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được thống nhất từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng Hòa miền Nam Việt Nam[4]. Kế họach 5 năm 1976-1980 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trong khôi phục kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế. Tầng lớp tư sản mại bản ở miền Nam bị xóa bỏ.

Hạn chế và khó khăn[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội vấp phải một số sai lầm khuyết điểm chủ yếu do tư tưởng chủ quan nóng vội, giáo điều thể hiện rõ nhất qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không tính đến khá năng thực hiện và điều kiện cụ thể của đất nước sau thống nhất. Sai lầm trong cả chủ trương cải tạo, quản lí kinh tế, thể hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ. Kinh tế Việt Nam mất cân đối lớn, kinh tế quốc doanh và tập thể luôn thua lỗ nặng, không phát huy tác dụng. Kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăm cấm triệt để. Sản xúât chậm phát triển, thu nhập quốc dân, năng súât thấp, đời sống nhân dân khó khăn, xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ IV, NXB Sự thật, trang 24
  2. ^ Lịch sử 12 Nâng cao, NXB Giáo dục, trang 269
  3. ^ Tạp chí Quân đội Nhân dân, số 7 -1976,trang 7
  4. ^ Văn kiện Đại hội IV

Xem Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam

Việt Nam Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam Communist Party of Vietnam flag.svg

1935 | 1951 | 1960 | 1976 | 1982 | 1986 | 1991 | 1996 | 2001 | 2006 | 2011| 2016|