Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam
| Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam |
|
|---|---|
Đảng kỳ |
|
| Lãnh tụ | Hồ Chí Minh |
| Chủ tịch | Võ Chí Công |
| Tổng bí thư | Nguyễn Văn Linh |
| Thành lập | 1 tháng 1, 1962 |
| Giải tán | 30 tháng 4, 1975 |
| Trụ sở | Tây Ninh |
| Báo chính thức | Giải Phóng |
| Tổ chức thanh niên | Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh |
| Hệ tư tưởng/ vị thế chính trị |
Chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa dân tộc |
| Thuộc quốc gia | |
| Màu sắc chính thức | Đỏ, vàng |
Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam - hay còn gọi là Đảng Nhân dân Cách mạng Miền Nam Việt Nam - là một tổ chức chính trị hình thức do Trung ương Cục miền Nam thành lập tại chiến khu Tây Ninh vào ngày 1 tháng 1 năm 1962 dựa trên chủ trương của Trung ương Đảng Lao động. Căn cứ vào thực tiễn của cách mạng Miền Nam và đề nghị của Đảng bộ miền Nam "đảng bộ Miền Nam phải có tên riêng vì nếu giữ tên cũ công khai thì kẻ thù trong và ngoài dễ vin vào đó mà xuyên tạc, vu cáo Miền Bắc can thiệp lật đổ Miền Nam. Điều đó làm cho Miền Bắc gặp khó khăn trong cuộc vận động đấu tranh cho Miền Nam trên phương diện pháp lý quốc tế. Mặt khác đổi tên Đảng cũng tạo điều kiện cho Đảng bộ Miền Nam công khai hiệu triệu nhân dân Miền Nam dùng mọi hình thức để đánh đuổi kẻ thù [1].
"Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là đảng của toàn thể nhân dân yêu nước miền Nam Việt Nam" (Tuyên ngôn).
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Thực chất, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam là đảng bộ Miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam Việt Nam, do Trung ương Đảng Lao động, Trung ương Cục Miền Nam (một bộ phận công khai của Trung ương Đảng Lao động ở Nam Việt Nam), và các Khu ủy do Trung ương Đảng Lao động lãnh đạo. Sau 30 tháng 4 năm 1975, đảng bộ Miền Nam công khai là thuộc Đảng Lao động Việt Nam, danh xưng không tồn tại nữa.
Cơ cấu tổ chức cũng trực thuộc trực tiếp Trung ương Đảng Lao động lãnh đạo, sinh hoạt đảng của nội bộ như các đảng bộ ngoài Bắc, dùng tên Đảng Nhân dân cách mạng, hay Đảng Lao động, tôn Hồ Chí Minh làm lãnh tụ. Điều lệ Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam cũng do Trung ương Đảng Lao động Việt Nam soạn thảo.[2]. Về công khai là lực lượng nòng cốt Mặt trận và chỉ đạo Quân giải phóng.
Lãnh đạo danh nghĩa [sửa]
- Võ Chí Công : Chủ tịch Đảng.
- Nguyễn Văn Linh : Tổng Bí thư Đảng.
- Phan Văn Đáng : Ủy viên Trung ương Đảng.
Các chức danh này công khai. Các vị này cũng là thành viên (thời gian khác nhau) Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, và thành viên Trung ương Cục miền Nam, bộ phận Trung ương đảng Lao động, ban đầu hoạt động hoàn toàn bí mật.
Lãnh đạo thực tế [sửa]
Đảng bộ Miền Nam từ năm 1961 đứng đầu là Bí thư Trung ương cục Miền Nam. Từ năm 1964 khi tách Đảng bộ Khu V về Trung ương, đứng đầu các đảng bộ khu vực B2 là Bí thư Trung ương Cục Miền Nam, đứng đầu Đảng bộ Khu V là Bí thư Khu ủy Khu V (Võ Chí Công). Từ tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tách Trị - Thiên ra khỏi khu V, thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế bao gồm Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị[3]. Bí thư Trần Văn Quang, đến tháng 11 năm 1968 Hoàng Anh thay thế.
Như vậy Đảng bộ Miền Nam gồm B2 (chia tiếp thành nhiều Khu), Khu V và Khu Trị - Thiên - Huế đều dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư.
Xem thêm [sửa]
- Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh
- Trung ương Cục miền Nam
- Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
- Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
- Danh sách tổ chức chính trị Việt Nam Cộng hòa
Tham khảo [sửa]
- ^ Viện Lịch sử Đảng (1998) Những sự kiện hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), tập II, Nxb CTQG Hà Nội, tr.20
- ^ Chỉ thị của Bộ Chính trị Số 233-CT/TW, ngày 30 tháng 7 năm 1976, Văn kiện Đảng toàn tập, trang 228, tập 37 (1976), Nxb Chính trị Quốc gia, 2004
- ^ Trích sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1954 - 1975; NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1999; Trang 165