Đảng dân chủ nông công Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
National Emblem of the People's Republic of China.svg

Chính trị và chính phủ
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Xem thêm
   Chính trị Hồng Kông
   Chính trị Ma Cao
   Chính trị Trung Hoa Dân Quốc

Các nước khác

Đảng dân chủ nông công Trung Quốc (tiếng Trung: 中国农工民主党, tức Trung Quốc nông công dân chủ đảng) gọi tắt là Nông công Đảng là một trong những đảng phái dân chủ của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, nằm trong liên minh chính trị do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc[1]. Nông công Đảng do tầng lớp trí thức trong phái tả của Quốc dân đảng Trung Quốc sáng lập như Đặng Diễn Đạt, Hoàng Kỳ Tường, Chương Bá Quân; đảng viên chủ yếu là trí thức trung và cao cấp trong ngành y dược.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1930, Đặng Diễn Đạt tại Thượng Hải chủ trì Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ nhất, quyết định thành lập Uỷ ban hành động lâm thời Quốc dân đảng Trung Quốc[1]. Đặng Diễn Đạt hy vọng ngoài hai đảng Cộng sản và Quốc dân đảng có thể hình thành lực lượng chính trị thứ ba để thành lập nước cộng hoà của giai cấp tư sảnTrung Quốc, do đó Uỷ ban hành động lâm thời Quốc dân đảng Trung Quốc được coi là đảng thứ ba (sau Quốc dân đảng và Đảng cộng sản).
  • Tháng 11 năm 1933, mười chín lộ quân ở Phúc Kiến phát động chính biến (tức Sự biến Phúc Kiến), Uỷ ban hành động lâm thời Quốc dân đảng Trung Quốc có tham gia. Tại Phúc Châu triệu tập Đại hội đại biểu lâm thời nhân dân toàn quốc Trung Quốc, Hoàng Kỳ Tường là chủ tịch đại hội đã tuyên bố thành lập Chính phủ cách mạng nhân dân của nước Cộng hoà Trung Hoa, Hoàng Kỳ Tường là một trong số 11 uỷ viên Chính phủ kiêm chủ nhiệm tham mưu Uỷ ban quân sự. Cuộc chính biến cuối cùng bị thất bại.
  • Ngày 10 tháng 11 năm 1935, Uỷ ban hành động lâm thời Quốc dân đảng Trung Quốc tại Cửu Long triệu tập Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ 2, quyết định đổi tên đảng thành Uỷ ban hành động giải phóng dân tộc Trung Hoa, chủ trương các đảng phái liên hiệp kháng Nhật, bầu Hoàng Kỳ Tường làm thư ký uỷ ban trung ương.
  • Ngày 1 tháng 3 năm 1938, Uỷ ban hành động giải phóng dân tộc Trung Hoa triệu tập Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ 3 tại Hán Khẩu, thông qua Chủ trương chính trị thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, lấy đường lối và phương châm của Đảng cộng sản Trung Quốc làm phương châm hành động của toàn đảng, đồng thời tăng cường hợp tác với Đảng cộng sản. Hội nghị bầu Chương Bá Quân làm Tổng liên lạc, quyết định tổ chức các địa phương trong toàn quốc thành Tổ chức hậu phươngTổ chức khu bị tạm chiếm, căn cứ tình hình thực tế để triển khai hoạt động.
  • Tháng 2 năm 1947, đảng triệu tập Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ 4 tại Thượng Hải, đổi tên đảng thành Đảng dân chủ nông công Trung Quốc, bầu Chương Bá Quân làm chủ tịch uỷ ban chấp hành trung ương.
  • Năm 19491951, Nông công Đảng lần lượt tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ 5 và 6.
  • Tháng 11 năm 1958, Hội nghị cán bộ toàn quốc đổi thành Đại hội đại biểu toàn quốc, Nông công Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7.
  • Các năm 1979, 1983, 1988, 19921997, Nông công Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8, 9, 10, 11 và 12.

Nông công Đảng ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng viên chủ yếu của Nông công Đảng là tầng lớp trí thức trung và cao cấp trong lĩnh vực y dược. Trừ Đài Loan, Tây Tạng, Nông công Đảng có tổ chức tại 30 tỉnh, khu tự trịthành phố trực thuộc trung ương của Trung Quốc, số lượng đảng viên hơn 102000 người[1].

Cơ quan trung ương Nông công Đảng gồm có: Trụ sở chính, Bộ Tổ chức, Bộ Tuyên truyền, Bộ phục vụ tin tức, Bộ nghiên cứu điều tra, Uỷ ban nghiên cứu tư liệu lịch sử đảng. Cơ quan ngôn luận của đảng là tạp chí Tiền tiến luận đàn.

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]