Đảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đảo nhỏ Pokonji Dol nằm trong biển Adriatic

Đảo hay hòn đảo là phần đất được bao quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là một lục địa; tuy vậy, không có một kích thước chuẩn nào để phân biệt giữa đảo và lục địa.[1]

Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đưa ra định nghĩa "đảo" cụ thể hơn, theo đó đảo "là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước."[2]

Có thể phân loại đảo tự nhiên thành hai nhóm chính là đảo lục địa và đảo đại dương. Ngoài ra còn có đảo nhân tạo.

Đảo lục địa[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo Brasilera nằm giữa sông ở biên giới Brasil, Uruguay và Argentina

Đảo lục địa là một phần đất đai nằm trên thềm lục địa của một lục địa nào đó, ví dụ:

Có một loại đảo lục địa đặc biệt được hình thành khi lục địa bị đứt gãy được gọi là đảo tiểu lục địa. Những đảo tiểu lục địa nổi tiếng là New Zealand (đảo Bắcđảo Nam), đảo Madagascar.

Ngoài ra, còn có thể kể đến loại đảo được hình thành do vật chất lắng đọng khi thuỷ lưu chảy chậm. Ở biển, các hải lưu làm lắng đọng cát lên thềm lục địa, tạo nên các đảo chắn. Tương tự, ở lưu vực các con sông lớn hoặc châu thổ sông, có thể bắt gặp một số đảo nhỏ nổi giữa dòng. Một số đảo này chỉ tồn tại tạm thời và có thể biến mất khi lưu lượng hoặc tốc độ chảy của dòng nước thay đổi, trong khi một số khác thì vẫn tồn tại lâu dài tại đó.

Đảo đại đương[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo đại dương là loại đảo không nằm trên thềm lục địa. Đa phần số đảo này được hình thành từ hoạt động của núi lửa; một số đảo lại được tạo nên từ các kiến tạo khi mảng địa chất dịch chuyển và nâng đáy đại dương lên khỏi mặt nước, ví dụ đảo Macquarie gần Nam Cực, trong khi một số khác lại được san hô tạo nên.

Đảo núi lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo núi lửa là những hòn đảo được hình thành do sự hoạt động của núi lửa, phun trào ra dung nham. Khối lượng lớn dung nham được phun lên, sau đó nguội dần, tạo thành những hòn đảo.

Đảo núi lửa Sarigan thuộc quần đảo Bắc Mariana

Các đảo đại dương có nguồn gốc núi lửa khá đa dạng về cách thức hình thành.

  • Loại thứ nhất được tìm thấy trên vòng cung đảo núi lửa. Những đảo này nổi lên từ các núi lửa khi mảng địa chất bị hút chìm (subduction) xuống dưới một mảng địa tầng khác. Ví dụ: quần đảo Mariana, quần đảo Aleut và phần lớn Tonga thuộc Thái Bình Dương.
  • Loại thứ hai hình thành khi đứt gãy đại dương vươn khỏi mặt biển. Ví dụ: Iceland và Jan Mayen ở Đại Tây Dương.
  • Loại thứ ba hình thành ngay trên các điểm nóng núi lửa. Một mảng địa chất dịch chuyển lên phía trên của điểm nóng núi lửa, sau đó nứt gãy ra, khiến dung nham phun lên và tạo thành mỗi chuỗi các hòn đảo. Sau một khoảng thời gian lâu dài với các tác động của chuyển động đẳng tĩnh và xói mòn, cuối cùng các đảo này chìm xuống và trở thành các núi biển. Sự dịch chuyển của mảng địa chất trên điểm nóng núi lửa tạo nên chuỗi đảo nằm dọc theo hướng di chuyển của mảng địa chất, ví dụ quần đảo Hawaiiquần đảo Australes thuộc Thái Bình Dương, Surtsey thuộc Đại Tây Dương.

Đảo san hô[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Rạn san hô vòngĐảo san hô
Đảo Saint Martin là một đảo san hô của Bangladesh

Đảo san hô là loại đảo nhiệt đới được hình thành từ khung san hô và các sinh vật có liên quan với san hô đó.[3] Loại đảo này thường gặp ở những khu vực biển nông hoặc xung quanh đảo núi lửa.

Rạn san hô vòng hay rạn vòng, ám tiêu san hô vòng (atoll) là một loại hình thể gồm một vòng san hô rào lấy một vụng biển (phá nước) ở giữa.[4] Theo Charles Darwin, loại cấu tạo này thành hình khi một đảo núi lửa bị xói mòn và chìm xuống nước, để lại vành san hô có dạng vòng đã phát triển xung quanh đảo núi lửa từ trước đó. Có nhiều rạn vòng chìm ngập dưới mặt biển khi thuỷ triều lên; tại những chỗ cao trên vành san hô, có thể nổi lên những đảo thấp và phẳng.[4] Một số tài liệu dùng thuật ngữ "đảo san hô vòng" thay cho rạn vòng, nhưng cách gọi này không bao quát bản chất vì đảo san hô (nếu có) chỉ là một phần của toàn thể rạn san hô đang đề cập.[4]

Trong biển Đông có hai quần đảo là Hoàng SaTrường Sa. Nơi đây tuy có rất nhiều rạn đá san hô nói chung (trong đó các rạn vòng) nhưng chỉ có một vài đảo san hô và đảo cát nhỏ. Việc sử dụng khái niệm "đảo" một cách tuỳ tiện sẽ dẫn đến nhầm lẫn về bản chất địa lí.

Mười đảo lớn nhất thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Diện tích
(km²)
Quốc gia
Greenland 2.130.800 Greenland Flag of Greenland (bordered).svg thuộc Đan Mạch Flag of Denmark.svg
New Guinea 785.753 Indonesia Flag of Indonesia.svgPapua New Guinea Flag of Papua New Guinea.svg
Borneo 748.168 Brunei Flag of Brunei.svg, Indonesia Flag of Indonesia.svgMalaysia Flag of Malaysia.svg
Madagascar 587.713 Madagascar Flag of Madagascar.svg
Đảo Baffin 507.451 Canada Flag of Canada.svg
Sumatra 443.066 Indonesia Flag of Indonesia.svg
Honshu 225.800 Nhật Bản Flag of Japan (bordered).svg
Đảo Anh 218.595 Anh Flag of the United Kingdom.svg
Đảo Victoria 217.291 Canada Flag of Canada.svg
Đảo Ellesmere 196.236 Canada Flag of Canada.svg

Đảo Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Greenland and Australia - Is Greenland a Continent? Why is Australia a Continent?” (bằng tiếng Anh). About.com. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển [bản dịch tiếng Việt]”. Trang thông tin điện tử về Biên giới lãnh thổ. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2012.  Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.
  3. ^ “Coral island” (bằng tiếng Anh). Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2012. 
  4. ^ a ă â “Atoll (coral reef)” (bằng tiếng Anh). Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2012.