Đặng Tiến Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tượng quan Đô trong chùa Trăm Gian (Hà Nội)

Đặng Tiến Đông (1738-?) làm quan thời -Trịnh, sau đầu quân Tây Sơn và trở thành danh tướng của lực lượng này. Thân thế và sự nghiệp của ông hiện vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học Việt Nam.

Gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bộ Đặng gia phổ hệ toàn chính thực lục [1] gồm 6 quyển do chính Đặng Tiến Đông biên soạn vào đời Tây Sơn (1792) và Ngô Thì Nhậm đề tựa, thì khi xưa, họ Đặng vốn họ Trần, tương truyền thuộc dòng dõi Trần Hưng Đạo. Về việc đổi họ, hiện có hai ý kiến:

  • Ý kiến thứ nhất cho rằng, vào đầu đời Lê, một người con của họ Trần là Trần Văn Huy đỗ tiến sĩ, lấy tự là Đặng Hiên, từ đó, con cháu lấy tự của cha làm họ.
  • Ý kiến thứ hai cho rằng, vào năm Tân Mùi (1511) thời vua Lê Tương Dực, một người con của họ là Trần Tuấn khởi binh chống nhà Lê. Cuộc khởi nghĩa thất bại, để tránh bị truy sát, con cháu họ Trần kéo về làng Lương Xá lập nghiệp và đổi sang họ Đặng [2].

Đến đời thứ 5 của họ Đặng là Đặng Huấn (có tài liệu chép là Đặng Đình Huấn), ban đầu ông giữ tước quan binh Khổng lý bá nhà Mạc. Năm 1549, ông cùng với Lê Bá Ly quy thuận nhà Lê. Sau nhờ có công giúp nhà Lê trung hưng nên được phong tới chức Thái úy, tước Nghĩa Quốc công rồi Hữu Trạch công. Con gái ông lại lấy chúa Trịnh Tùng sinh ra chúa Trịnh Tráng nên từ đó, họ Đặng trở thành một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan lớn trong suốt thời -Trịnh.

Nhận xét về họ Đặng, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết: (Họ này) hơn hai trăm năm vinh hoa rực rỡ, hơn cả các họ công thần. Tục ngữ có câu: "Đánh giặc họ Hàm, làm quan họ Đặng". [3].

Ở vùng Chương Mỹ còn có đôi câu hát nhắc đến dòng họ Đặng như sau:

Giàu thì Quảng Bị, Bối Khê,
Làm quan Lương Xá, ngoại đê Đại Từ.

Hay:

Bao giờ chợ Chúc hết người,
Sông Ninh hết nước, Đặng này hết quan.

Thân thế & sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Tiến Đông hay Đặng Tiến Giản () [4] sinh ngày 2 tháng 5 năm Mậu Ngọ (18 tháng 6 năm 1738), tại xã Thịnh Phúc, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay đã sáp nhập vào Hà Nội).

Ông thuộc chi trưởng dòng họ Đặng, gốc ở làng Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ), là con trai thứ tám của Dận Quận Công Đặng Tiến Cẩm (1679-1749) [5] và bà vợ lẽ thứ năm là Phạm Thị Yến. Ông là con trai thứ 8 trong gia đình. Các anh ông là Đặng Đình Trí, Đặng Đình Thiệu, Đặng Đình Cầu, Đặng Đình Tự, Đặng Đình Giám, Đặng Đình Tú và Đặng Đình Hữu đều được phong tước bá, tước hầu.

Năm 1749, lên 9 tuổi, Đặng Tiến Đông bắt đầu theo học thầy Doãn Xá tại chùa Thủy Lâm (còn có tên là chùa Lương Xá tại xã Lam Điền, Chương Mỹ).

Năm 1749, Đặng Tiến Đông 11 tuổi thì mồ côi cha. Mười năm sau, năm 1759, mẹ ông cũng qua đời.

Làm quan thời Lê-Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1763, Đặng Tiến Đông thi võ đỗ Tạo sĩ và ra làm quan. Năm 1782, con trưởng chúa Trịnh SâmTrịnh Khải dựa vào quân Tam Phủ giành lại ngôi chúa từ tay em là Trịnh Cán (con của Tuyên phi Đặng Thị Huệ). Sau khi giết Phụ chính Hoàng Đình Bảo và bắt Tuyên phi, quân Tam Phủ lùng bắt các quan họ Đặng và họ Hoàng. Anh ông Đông là Đặng Đình Thiệu cùng 30 người họ Đặng Khác hộ tống Tuyên phi bỏ trốn, bị Trịnh Khải bắt được và đem xử chém tại xã Nghi Kiều (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Đặng Tiến Đông phải bỏ quan đi trốn để tránh sự truy quét của chúa Trịnh Khải.

Những năm cuối đời chúa Trịnh (1784) ở Đàng Ngoài triều đình Lê-Trịnh đổ nát; trong khi đó ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan chuyên quyền, phong trào Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Nguyễn HuệNguyễn Lữ cùng chỉ huy nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn.

Đầu quân Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đến giữa năm 1786, lấy danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh", Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, thì giữa năm sau (1787), năm 48 tuổi, Đặng Tiến Đông đã lặn lội vào tận Quảng Nam, tìm đến quân doanh xin yết kiến Nguyễn Huệ. Từ đây, thân thế và sự nghiệp của ông bắt đầu gây nên một cuộc tranh cãi cho giới sử học sau này.

Căn cứ Tông đức thế tự bi (do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc) dựng trước chùa Thủy Lâm, thôn Lương Xá vào năm 1797, thì ông "được đón tiếp và đãi ngộ riêng, rồi được tin yêu ban cho ấn kiếm, giao cho thống lĩnh việc quân."

Cuối năm 1788, vua Càn Long (nhà Thanh, Trung Quốc), thuận theo lời cầu xin của vua Lê Chiêu Thống, bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống vị vua trẻ này về lại Thăng Long. Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở, theo mưu kế của các văn thần Ngô Thì Nhậm, đã chủ động rút quân về lập phòng tuyến ở Tam Điệp-Biện Sơn cố thủ chờ lệnh.

Lúc bấy Đô đốc Đặng Tiến Đông đang làm Trấn thủ xứ Thanh Hoa, ngày đêm lo hỗ trợ việc quân vì phòng tuyến trên vốn thuộc địa phận và hải phận do mình cai quản.

Lập đại công[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lời kể của GS. Phan Huy Lê, thì ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đã ra đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, nhà vua chia quân ra làm 5 đạo, giao cho Đô đốc Long chỉ huy một đạo gồm quân voi và quân kỵ mã.

Bắt đầu từ Tam Điệp, Đô đốc Đông cho quân đi theo con đường thượng đạo qua Phố Cát, ra Thiên Quan (Nho Quan, Ninh Bình), xuyên qua Chương Đức (tức Chương Mỹ, quê hương ông), đến làng Nhân Mục rồi rẽ ngang sang Khương Thượng diệt quân Thanh do Sầm Nghi Đống chỉ huy đang đóng tại khu chùa Bộc cạnh Đống Đa (nay là khu phố Đống Đa, thành phố Hà Nội).

Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, bắt đầu lúc canh tư ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu và lúc trời chưa sáng thì đánh hạ được đồn, làm cho viên tướng Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự vẫn ngay tại đài chỉ huy ở Loa Sơn (thuộc khu vực chùa Bộc).

Ngay sau đó, Đô đốc Đông dẫn quân diệt luôn đồn Nam Đồng, rồi tiến nhanh về phía cửa Tây thành Thăng Long. Ở cung Tây Long, Tôn Sĩ Nghị nghe tiếng súng nổ ầm ầm và thấy khói lửa rực trời, vội vàng lên ngựa lẻn qua cầu phao bắt ngang sông Hồng, nhắm hướng Bắc mà chạy.

Văn thần Phan Huy Ích trong Tông đức thế tự bi đã mô tả lại hình ảnh oai hùng của Đô đốc Đông lúc ấy như sau: Ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm.

Trưa ngày hôm đó, vua Quang Trung cùng với đại quân tiến vào kinh thành giữa sự đón chào của Đô Đốc Đông và sự hoan nghênh của nhân dân. Bài văn bia trên còn ghi rõ sự ban thưởng của nhà vua đối với ông: Vũ Hoàng Đế vào Thăng Long, tiến hành khen thưởng, ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn, phàm các khoản binh phân, hộ phân, sưu sai đều cho miễn trừ.

Danh sĩ Ngô Ngọc Du, người chứng kiến trận đại thắng trên, đã thuật lại bằng hai bài thơ, đó là bài "Long thành quang phục kỷ thực" (Ghi lại sự thật việc khôi phục thành Thăng Long). Trích phần dịch nghĩa:

Bọn giặc vì cớ gì mà điên cuồng đến đây?
Quân của nhà vua phẫn nộ nêu cao uy vũ.
Rồi thần tốc xông thẳng tới,
Như từ trên trời giáng xuống, không ai kháng cự nổi.
Một trận "rồng lửa"[6] làm cho giặc tan tành,
Chúng bỏ thành cướp đò tìm cách chạy trốn...

Và bài "Loa Sơn điếu cổ" (trích phần dịch nghĩa):

Thanh Nam xác giặc mười hai đống,
Ngời sáng anh hùng đại võ công.

Tiếp tục làm quan Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đánh tan quân ngoại xâm, Đặng Tiến Đông tiếp tục đảm nhận nhiều nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Tây Sơn. Dưới triều Quang Trung (1788-1792), ông giữ chức Vệ Quốc Thượng Tướng Quân, Trấn thủ hai xứ Thanh Hoa và Nghĩa An (thời Tây Sơn gọi trấn Nghệ An là Nghĩa An hay Trung Đô). Có lẽ ông giữ chức vụ đó từ cuối năm 1787 cho đến đầu năm 1790 (đến năm này vua Quang Trung cử con là Nguyễn Quang Bàn làm Đốc Trấn Thanh Hoa và tướng Trần Quang Diệu làm Đốc Trấn Nghĩa An).

Và theo Tông đức thế tự bi và bài minh do Trần Bá Lãm soạn khắc vào chuông chùa Trăm Gian (thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ) vào năm 1794, thì trong thời vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản, ở ngôi: 1792-1802), Đô đốc Đông giữ chức Đại Tướng Thống Vũ Thắng Vệ Thiên Hùng Hiệu.

Ngoài việc quan ở nơi Đặng Tiến Đông trấn nhậm, ông còn sốt sắng lo việc chiêu tập dân làng trở về quê hương, khai khẩn đất đai, mở mang thôn xóm và chăm lo tu bổ một số đền chùa ở Lương Xá.

Bên cạnh đó, ông còn lo việc biên soạn Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục (6 quyển). Phả này khảo xét dòng họ Đặng và sinh hoạt chính trị nước Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18.

Hiện chưa rõ Đô đốc Đặng Tiến Đông mất năm nào[7], nhưng căn cứ năm lập bia Tông đức thế tự bi để tưởng niệm ông (1797), thì rất có thể ông đã mất trước đó một vài năm tức là vào những năm đầu triều vua Cảnh Thịnh.

Mộ ông táng ở xứ Đồng Trê, nay thuộc thôn Đầm Dền, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Hiện ở phía Tây gò Đống Đa (Hà Nội) có một con phố mang tên ông.

Nghi vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Người lập đại công chép ở bên trên, chủ yếu soạn theo lời kể của GS. Phan Huy Lê trong bài viết Đô đốc Long-Một tường Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa. Đồng quan điểm này có nhóm tác giả biên soạn sách Đại cương lịch sử Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam(tập 1) và Ngô Thế Long trong bài Một số tư liệu liên quan đến Đô đốc Đặng Tiến Đông đời Tây Sơn...

Tuy nhiên hiện vẫn còn các ý kiến khác:

  • Danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) trong sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện cho rằng Đô đốc Long (có sách chép là Đô đốc Mưu) chính là Đặng Văn Long, tự là Tử Vân, quê ở huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (Bình Định). Đồng quan điểm này có Quách Tấn-Quách Giao trong sách Nhà Tây Sơn. Phạm Minh Thảo trong quyển Bắc Bình Vương, Chu Minh Khôi trong bài Những di vật liên quan tới Đô đốc Đặng Tiến Đông ở chùa Trăm Gian...[8]
  • GS. Nguyễn Q.Thắng & Nguyễn Bá Thế trong Tự điển nhân vật lịch sử (bộ mới) chép: Dù hiện vẫn còn nhiều tồn nghi về nhân vật lịch sử này, nhưng người dân phường Trường Xuân, thành phố Tam Kỳ vẫn nghĩ đó là Lê Văn Long, người con của quê mình. Ông là con của Thủ tài hầu Lê Văn Thủ, một trong những tướng tài của Tây Sơn. Năm Quang Trung thứ hai (1789), Lê Văn Long được sắc phong là Võ tướng hữu quân tại Phú Xuân. Sắc viết (tạm dịch): Sắc! Sắc phong Lê Văn Long ở xã Phú Xuân Trung, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, người đã trải qua nhiều chiến trận, lắm công lao khó nhọc. Nay bổ giữ chức Võ tướng hữu quân để sai khiến việc quân. Nếu công việc trễ nải, thiếu cần mẫn sẽ theo quân pháp triều đình mà xử lý[9].

Ngoài ra, tuy không cho biết ai là Đô đốc Long, nhưng sau khi phân tích nhà báo Diệp Trúc Thanh đã kết luận rằng Đô đốc Nguyễn Tiến Giản (hay Đông) chỉ là người dẫn quân Tây Sơn ra Thăng Long diệt Nguyễn Hữu Chỉnh vào đầu năm Mậu Thân (1788), chứ phải là người chỉ huy đánh trận Đống Đa vào Tết Kỷ Dậu (1789) [11].

Do những thông tin hãy còn đang trái chiều, nên ai mới thật sự là Đô đốc Long, người chỉ huy đạo quân đánh đồn Khương Thượng (Đống Đa, nay thuộc thành phố Hà Nội), cần phải tìm hiểu thêm.

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo sắc (sắc phong) có niên đại ngày 3 tháng 7 năm Thái Đức thứ 10 (15 tháng 8 năm 1787). GS. Phan Huy Lê đã căn cứ lời văn của đạo sắc, mà suy đoán rằng rất có thể trước khi Đặng Tiến Đông đến yết kiến Nguyễn Huệ (1787), ông đã từng làm Trấn thủ Thanh Hoa dưới triều nhà Lê. Cho nên lúc được thu dụng, Nguyễn Huệ đã gia phong chức Đô đốc Đồng tri tước Đông Lĩnh hầu vẫn sai làm trấn thủ xứ Thanh Hoa[12].

Ngoài ra, trong đạo sắc, Nguyễn Huệ còn có đoạn khen ngợi ông như sau:

...(ông là người có) khí khái của trượng phu, tấm lòng của nam tử, đường làm quan gặp gỡ, dựng nên công lớn vua tôi, trước sau báo đền, không quên điều hiểu biết của kẻ sĩ trong nước, trải mùa đông mà không chịu khuất như cây tùng lúc giá rét.

Văn bản viết trên giấy sắc, khổ 138×50 cm, hiện do chi trưởng của dòng họ Đặng ở Lương Xá giữ và đặt thờ trên bàn thờ của chi họ này. Đây là một trong số ít nguyên bản sắc phong chức tước đời Tây Sơn còn lưu giữ được cho đến nay.

Bia tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một bia đá cao 1,72m, bề ngang 0,85m, dày 0,34m; được dựng trước chùa Thủy Lâm ở thôn Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ) vào ngày 15 tháng 6 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ năm, tức ngày 9 tháng 7 năm 1797. Trên bia đá có khắc bài văn bia tưởng niệm Đặng Tiến Đông do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc. Ngoài phần nói về thế phả họ Đặng, có một đoạn ngắn tóm lược công lao, sự nghiệp của ông kể từ khi theo Tây Sơn cho đến khi lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống Thanh. Đoạn văn đó như sau (Phiên âm):

Kim triều đại tướng thống Vũ Thắng đạo Thiên Hùng đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông (hay Giản) hệ xuất lệnh tộc giáp nhất chi, Yên quận công chi tôn, Dận quận công chi tử (mất một chữ) thì, Hoàng triều Thái tổ Vũ Hoàng đế nghĩa thanh chấn bạc quy trú Quảng Nam, công nhất kiến quân môn, mật mông tri ngộ, sủng ban ấn kiếm, ủy thống nhung huy. Ngưỡng lại thiên uy, nhất cử đảng định. Mậu thân (2 chữ bị đục) sơ, bắc binh nam mục, công phụng chiếu tiên phong đạo, tiến chiến nhi bắc binh hội. Công đơn kỵ đương tiên, túc thanh cung cấm. Vũ Hoàng giá lâm Thăng Long, sách hành thưởng đặc tứ bản quán Lương Xá xã vĩnh vi thực ấp...
Dịch nghĩa:
Vị Đại tướng triều ta là Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông (hay Giản) thống lĩnh về Thiên Hùng trong đạo Vũ Thắng, xuất thân từ chi thứ nhất một họ lớn, cháu cụ Yên quận công, con cụ Dận quận công… Bấy giờ tiếng tăm nghĩa khí của Thái tổ Vũ Hoàng đế (tức vua Quang Trung) lừng lẫy khắp nơi, ngài đang đóng quân ở Quảng Nam. Ông một lần vào ra mắt trước cửa quân, nhờ ơn tri ngộ, yêu ban ấn kiếm, giao cho cầm quân. Ngửa nhờ oai trời, một lần cất quân là quét sách giặc giã. Năm Mậu Thân...quân Bắc nhòm ngó phương Nam, ông vâng chiếu lãnh đạo tiên phong tiến đánh quân Bắc tan rã. Ông một mình một ngựa đi trước vào dẹp yên cung cấm. Vũ Hoàng đế đến Thăng Long xét công phong thưởng, đặc biệt ban cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn...

Tượng quan Đô[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Trăm Gian (Hà Nội) còn giữ được một bức tượng Đặng Tiến Đông mà nhân dân địa phương thường gọi là "tượng quan Đô". Bài văn bia Đặng tướng công bi dựng trong chùa năm 1927 và gia phả một số chi họ Đặng cho biết bức tượng tạc vào năm Cảnh Thịnh thứ hai (năm 1794), lúc Đặng Tiến Đông 56 tuổi. Các tài liệu trên cho biết tượng truyền thần này tạc vào lúc ông sinh thời và rất giống ông.

Tượng bằng gỗ mít, cao 1,30m không kể bệ, tạc một võ tướng mặc võ phục đơn giản, trong tư thế ngồi, hai tay vòng về phía trước. Tượng thể hiện một người có tuổi, dáng cao lớn, vai rộng, khuôn mặt to, mồm hơi dô, môi dày, râu quai nón. Nét mặt trang nghiêm nhưng có vẻ hiền lành, chất phác. Bức tượng đã bị mọt đục ruỗng đôi chỗ và đã bị sơn lại. Đây là một tác phẩm điêu khắc khá đẹp và rất hiếm có của nghệ thuật thời Tây Sơn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gia tộc họ Đặng ở Lương Xá trước đây có tất cả 9 bộ gia phả, nhưng nay chỉ còn giữ được 3 bộ, đó là: Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục, do Đại đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông biên soạn năm 1792. Đặng gia phả ký tục biên biền thuyết, do Tham đốc Hiển Trung hầu Đặng Đình Quỳnh biên soạn năm 1763Đặng thế gia phả ký do nhà báo Đăng Văn Phái, quê ở xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, biên soạn năm 1938.
  2. ^ Tuy nhiên, có người cho rằng: "Sự thực, "Đặng Tộc Đại Tông Phả" viết năm 1683 do tổng trấn trọng thần Yến Quận Công Đặng Tiến Thự, năm 1686 quốc lão Ứng Quận Công Đặng Đình Tướng tục biên, năm 1745 Thái Nhạc Quận Công tiếp tục tục biên cho biết tổ tiên Đặng Tiến Đông là ngài Đặng Tất (thuộc nhánh Đặng Dung). Chúng tôi - hậu duệ của ngài - cực lực phản đối việc gán ghép ngài có gốc họ Trần. Mong các nhà nghiên cứu về xem bộ gốc Đặng Tộc Đại Tông Phả được trưởng tộc chúng lưu giữ.
  3. ^ Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1). Nhà xuất bản Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành năm 1992, tr. 345. Thông tin thêm: Sau Nghĩa Quốc Công Đặng Huấn, lần lượt là: Hà Quận Công Đặng Tiến Vinh, Doanh Quận Công Đặng Thế Tài, Yên Quận Công Đặng Tiến Thự, Dận Quận Công Đặng Tiến Cẩm, tức cha Đô đốc Đặng Tiến Đông.
  4. ^ Tại trang cuối quyển 6 trong bộ gia phả, khi Đặng Tiến Đông viết về cha ông tức Dận quận công, đã giải thích việc đổi tên mình như sau (phiên âm): Mậu Ngọ ngũ nguyệt sơ nhị, Quý Sửu thì, sinh đệ bát tử "Đông" hậu cải "Giản" dĩ tự vựng vân: Trùng âm tích vũ chi hậu hốt kiến nhật sắc, cố tri danh yên. Có nghĩa là: Năm Mậu Ngọ, tháng 5, ngày 2, giờ Quý Sửu, sinh con trai thứ 8 là Đông sau đổi tên Giản theo nghĩa chữ Giản là: Sau khi mây mù tích mưa bổng thấy ánh mặt trời, cho nên đặt tên như thế.
  5. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1, tr. 750), [1][2] đều ghi tên là Đặng Đình Miên. Ở đây ghi theo GS. Phan Huy Lê.
  6. ^ Phạm Ngọc Du giải thích: "Quân Tây Sơn tiến công thành Thăng Long, nhân dân chín xã ngoại thành sôi nổi bện rơm cỏ thành hình rồng, tẩm dầu đốt lửa, đánh một trận rồng lửa". Đây chính là sự phối hợp rất có hiệu quả giữa nhân dân và nghĩa quân Tây Sơn.
  7. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1, tr. 750) cho biết thời Cảnh Thịnh, Đặng Tiến Đông về nghỉ ở quê và mất năm 1803, nhưng không cho biết đã lấy từ nguồn nào. Còn tác giả Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế có dẫn một đoạn chép theo gia phả họ Đặng ở Lương Xá rằng: Vệ quốc thượng tướng quân trấn thủ Thanh Hoa kiêm Nghệ An trấn Đô đốc Đặng Lĩnh hầu Đặng tướng công đại phụ tứ nguyệt thập tốt, hoàng triều Chiêu Thống nguyên niên nhị nguyệt cát hạ phùng tra. Hai tác giả này đã dựa vào đây để cho rằng Đặng Tiến Đông mất vào ngày rằm tháng Tư (theo Hán văn thì là tháng Hai, có lẽ tác giả ghi nhầm) triều Chiêu Thống năm thứ nhất (1787) Đinh vị. Vì vậy, hai ông không cho rằng Đô đốc Đông không phải là người chỉ huy đạo quân Tây Sơn đánh đồn Khương Thượng năm 1789 mà là Lê Văn Long, người làng Trường Xuân, nay thuộc thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm 2006, trang 167-168).
  8. ^ Xem ở đây [3].
  9. ^ Theo Nguyễn Q.Thắng và Nguyễn Bá Thế, trong Tự điển nhân vật lịch sử (bộ mới). Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006, trang 540-541
  10. ^ Xem thông tin ở Tập san Văn hóa và đời sống, Sở VHTT Quảng Ngãi (số Xuân Quý Dậu, 1993, trang 14-17) hay ở đây [4]
  11. ^ Theo sử liệu, thì Nguyễn Hữu Chỉnh đã bị diệt năm 1787. Chép năm Mậu Thân (1788), thì phải ghi là diệt Vũ Văn Nhậm mới đúng. Xem chi tiết tại đây [5].
  12. ^ GS. Lê giải thích thêm: "Vào thời điểm này Thanh Hoa vẫn thuộc quyền cai quản của nhà Lê. Phải đến cuối năm 1787, khi trấn này thuộc về Tây Sơn, Đô đốc Long mới nhậm chức thực thụ".

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhiều người soạn, Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập 1). Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1995.
  • Phan Huy Lê, Đô đốc Đặng Tiến Đông-một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa. Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 154 (tháng 1 năm 1974).
  • Nguyễn Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam (Tập 3). Nxb Giáo dục, 2005.
  • Trương Hữu Quýnh-Phan Doãn Đại-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương Lịch sử Việt Nam (Tập 1). Nxb Giáo dục, 2007.
  • Nguyễn Lương Bích-Phạm Ngọc Phụng. Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ. Nxb Quân đội Nhân dân, 1977.
  • Quách Tấn-Quách Giao, Nhà Tây Sơn. Bảo tàng Quang Trung (Bình Định) xuất bản, 2002.
  • Phạm Minh Thảo, Bắc Bình Vương. Nxb VH-TT, 2008.
  • Và các nguồn đã ghi kèm theo bài.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]