Đế quốc Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đế chế Anh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
British Empire
Đế quốc Anh
Đế quốc
Life span?

Quốc kỳ của British

Quốc kỳ

Vị trí của British
Thủ đô London
Chính thể Quân chủ lập hiến
Lịch sử
 - Khởi đầu năm Enter start year
 - Anh trao trả độc lập cho các thuộc địa Enter end year
 - Trao trả Hongkong về cho Trung Quốc 1997

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm những lãnh thổ tự trị, những thuộc địa, những quốc gia tự trị và nhiều lãnh thổ khác được điều hành và quản lý bởi liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Đế quốc Anh khởi nguồn với những thuộc địa ngoại quốc và cảng giao thương được thành lập bởi Anh cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17. Trong thời kỳ đỉnh cao, đây là đế quốc lớn nhất trong lịch sử, trong hơn một thế kỷ, Thực dân Anh là siêu cường hàng đầu trên thế giới.[1] Tính tới năm 1922, Đế quốc Anh có dân số khoảng 458 triệu người, chiếm 1/8 dân số thế giới lúc đó[2] và bao phủ diện tích hơn 13.000.000 dặm vuông (33.000.000 km²): xấp xỉ một phần tư tổng diện tích toàn cầu.[3] Những di sản về văn hóa, ngôn ngữ của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Tại đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "mặt trời không bao giờ lặn trên Đế quốc Anh".

Trong suốt Thời đại Khám phá ở thế kỷ 15 và 16, Tây Ban NhaBồ Đào Nha đi tiên phong trong phong trào châu Âu thám hiểm thế giới, và trong quá trình đó đã xây dựng nên các đế quốc hải ngoại lớn. Chứng kiến sự thịnh vượng mà những đế quốc thực dân này giành được, Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập thuộc địa và những mạng lưới giao thương tại châu Mỹ và châu Á.[4] Những cuộc chiến tranh với PhápHà Lan trong thế kỷ 17 và 18 đã giúp Anh trở thành một cường quốc thuộc địa thống trị ở Bắc MỹẤn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của Anh (và cả Pháp[5]) bị hạn chế ở châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, ÁoNga.[6][7] Sau khi bị mất mười ba thuộc địa sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ năm 1783 đã giáng một đòn mạnh vào Anh, cuộc chiến đã tước đi của Anh phần lớn những thuộc đia đông dân nhất. Bất chấp bước thụt lùi, sự chú ý của Anh sau đó chuyển sang châu Phi, châu ÁThái Bình Dương. Sau thất bại của Napoléon Bonaparte năm 1815, Anh đã tận hưởng một thế kỷ thống trị không có đối thủ, đồng thời mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Nhiều thuộc địa của dân da trắng được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.

Sự phát triển lớn mạnh của ĐứcHoa Kỳ làm xói mòi sự dẫn đầu về kinh tế của Anh cuối thế kỷ 19. Sau đó, những căng thẳng về kinh tế và chính trị giữa Đức và Anh là những nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, trong đó Anh phải dựa chủ yếu vào đế quốc của mình. Cuộc chiến đã tạo ra những khó khăn về tài chính cho Anh, và dù Đế quốc Anh đạt được sự mở rộng lãnh thổ lớn nhất sau cuộc chiến, nhưng Anh không còn là một cường quốc số một về quân sự và công nghiệp. Chiến tranh thế giới lần hai chứng kiến việc các thuộc địa Anh ở Đông Nam Á bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm tổn thương uy tín của Anh và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ.

Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như là một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997. Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, đó là Nữ vương Elizabeth II. 14 thuộc địa khác vẫn chịu sự quản lý của Anh, những thuộc địa đó được gọi là lãnh thổ hải ngoại Anh Quốc.

Nguồn gốc (1497-1583)[sửa | sửa mã nguồn]

Một bản sao của The Matthew, chiếc thuyền mà thuyền trưởng John Cabot đã dùng để đến Tân thế giới trong lần khàm phá thứ hai của mình

Nền tảng của Đế quốc Anh được đặt khi AnhScotland là hai vương quốc riêng biệt. Sau những thành công của Tây Ban NhaBồ Đào Nha trong việc thăm hiểm hải ngoại, đến năm 1496 Quốc vương Henry VII của Anh ủy quyền cho John Cabot dẫn đầu một chuyến đi để khám phá một tuyến đường tới châu Á thông qua Bắc Đại Tây Dương.[8] Cabot khởi hành năm 1497, 5 năm sau khi người châu Âu phát hiện ra châu Mỹ, và mặc dù thành công đổ bộ lên trên bờ biển của Newfoundland, nhưng lại không nỗ lực để thành lập một thuộc địa (nhầm tưởng như Cristoforo Colombo, rằng ông đến được châu Á) [9]. Cabot dẫn đầu một chuyến đi đến châu Mỹ vào năm sau, nhưng không nghe được tin gì về các tàu của ông nữa.[10]

Không có nỗ lực hơn nữa để thiết lập các thuộc địa Anh ở châu Mỹ cho đến khi Nữ vương Elizabeth I trị vì, trong những thập niên cuối của thế kỷ 16.[11] Cuộc Cải Cách Tin Lành khiến Anh và Tây Ban Nha Công giáo trở thành kẻ thù.[8] Năm 1562, Quân chủ Anh cấp quyền cho John HawkinsFrancis Drake tiến hành các cuộc tấn công bắt nô lệ chống lại tàu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngoài khơi bờ biển Tây Phi [12] với mục tiêu thâm nhập vào hệ thống mậu dịch Đại Tây Dương. Nỗ lực này bị đẩy lui và sau đó, khi cuộc chiến tranh Anh-Tây Ban Nha trở nên khốc liệt, Elizabeth giúp đỡ tàu lùng tiếp tục tấn công các cảng Tây Ban Nha ở châu Mỹ và những tàu vận chuyển vượt Đại Tây Dương trở về, chất đầy kho báu của Tân thế giới.[13] Trong khi đó, những nhà văn có ảnh hưởng như Richard HakluytJohn Dee (người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "British Empire")[14] bắt đầu thúc giục cho việc thành lập một đế quốc riêng của Anh. Đến thời điểm này, Tây Ban Nha đã trở thành thế lực chiếm ưu thế tại châu Mỹ, Bồ Đào Nha đã thiết lập các cơ sở mậu dịch và các tiền đồn từ bờ biển châu PhiBrasil sang Trung Quốc, và Pháp đã bắt đầu thuộc địa hóa sông Saint-Laurent, sau này trở thành Tân Pháp.[15]

Mặc dù Anh đi sau các cường quốc châu Âu khác trong việc thiết lập các thuộc địa hải ngoại, trong thế kỷ 16 họ đã tiến hành đưa những người Tin Lành từ Anh và Scotland đến Ireland, tiếp nối tiền lệ người Norman xâm chiếm Ireland vào năm 1169.[16][17] Nhiều người đóng góp vào công cuộc thiết lập các đồn điền Ireland cũng đóng một vai trò trong thuộc địa hóa ban đầu tại Bắc Mỹ, đặc biệt là một nhóm được gọi là "những người đàn ông miền Tây".[18]

"Đệ nhất đế quốc" (1583-1783)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1578, Nữ vương Elizabeth I ban một giấy phép cho Humphrey Gilbert trong việc khám phá và thăm hiểm hải ngoại.[19] Năm đó, Gilbert khởi hành đi Tây Ấn với ý định tham gia vào việc cướp biển và thiết lập một thuộc địa tại Bắc Mỹ, nhưng chuyến đi bị hủy bỏ trước khi thuyền vượt qua Đại Tây Dương.[20][21] Năm 1583, ông bắt tay vào một nỗ lực thứ hai, lần này tới được đảo Newfoundland và tuyên bố chủ quyền cảng của đảo này thuộc về Anh, mặc dù không để người định cư ở lại. Gilbert qua đời trong chuyến đi trở về Anh. Sự nghiệp của ông được kế tục bởi người em trai cùng mẹ khác cha của mình là Walter Raleigh, người này được Elizabeth I cấp giấy phép vào năm 1584. Trong năm đó, Raleigh cho thiết lập một thuộc địa tại đảo Roanoke trên bờ biển Bắc Carolina ngày nay, tuy nhiên do thiếu đồ dự trữ nên thuộc địa thất bại.[22]

Năm 1603, Quốc vương James VI của Scotland trở thành Quốc vương Anh, và một năm sau đó, ông đàm phán với người Tây Ban Nha ký vào Hiệp ước London, chấm dứt tình trạng thù địch bấy lâu nay. Lúc này Anh trong trạng thái hòa bình với kình địch chủ yếu, họ chú ý chuyển đổi từ cướp bóc cơ sở hạ tầng thuộc địa của các quốc gia khác sang việc thành lập các thuộc địa hải ngoại của mình.[23] Đế quốc Anh bắt đầu thành hình vào đầu thế kỷ 17, khi Anh thuộc địa hóa Bắc Mỹ và các đảo nhỏ trong vùng Caribe, và thành lập những công ty tư nhân, đáng chú ý nhất là Công ty Đông Ấn Anh, để quản lý các thuộc địa và mậu dịch hải ngoại. Thời kỳ cho đến khi Mười ba thuộc địa bị mất sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ kết thúc vào cuối thế kỷ 18 được các sử gia gọi là "Đế quốc Anh đầu tiên".[24]

Châu Mỹ, châu Phi và mua bán nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mười ba thuộc địa

Caribe ban đầu có các thuộc địa quan trọng và sinh lợi nhất cho Anh,[25] sau khi nhiều nỗ lực thuộc địa hóa vùng này bị thất bại. Một nỗ lực nhằm lập một thuộc địa tại Guyana kéo dài trong vòng hai năm, và thất bại trong mục tiêu chính là tìm vàng.[26] Các thuộc địa St Lucia (1605) và Grenada (1609) cũng nhanh chóng bị hủy bỏ, nhưng các khu định cư được thiết lập thành công tại St. Kitts (1624), Barbados (1627) và Nevis (1628).[27] Các thuộc địa nhanh chóng tuân theo hệ thống các đồn điền trồng mía mà người Bồ Đào Nha áp dụng thành công tại Brasil, hệ thống này dựa trên lao động nô lệ, và ban đầu dựa vào các tàu của Hà Lan bán nô lệ và mua đường.[28] Để đảm bảo rằng lợi nhuận tăng lên của hoạt động này vẫn nằm trong tay Anh, Quốc hội đã ra sắc lệnh năm 1651 rằng chỉ có tàu Anh được qua lại để giao dịch trong các thuộc địa của Anh. Điều này dẫn đến tình tạng thù địch với Hà Lan, và một loạt các cuộc chiến giữa Anh và Hà Lan diễn ra, cuối cùng làm củng cố vị thế của Anh tại châu Mỹ và làm mấy uy thế của Hà Lan.[29] Năm 1655, Anh sáp nhập đảo Jamaica từ Tây Ban Nha, và thành công trong thuộc địa hóa Bahamas vào năm 1666.[30]

Thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ, 1763–1776

Khu định cư vĩnh cửu đầu tiên của Anh tại châu Mỹ được thành lập tại Jamestown vào năm 1607, do John Smith lãnh đạo và Công ty Virginia quản lý. Anh tiến hành định cư và tuyên bố chủ quyền đối với Bermuda sau khi kỳ hạm của công ty đắm tại đây vào năm 1609, và đến năm 1615 quần đảo này được chuyển giao sang công ty Somers Isles.[31] Đặc quyền của Công ty Virginia bị thu hồi vào năm 1624 và quân chủ đảm nhiệm quyền quản lý trực tiếp Virginia, do đó thành lập Thuộc địa Virginia.[32] Công ty London và Bristol được thành lập năm 1610 với mục đích lập ra một khu định cư vĩnh cửu trên Newfoundland, nhưng phần lớn là không thành công.[33] Năm 1620, Plymouth để làm nơi cư trú cho những người phân lập tôn giáo Thanh giáo mà sau này được biết đến là những người Pilgrim.[34] Chạy trốn khỏi ngược đãi tôn giáo sẽ trở thành động cơ để nhiều người Anh muốn trở thành người khai hoang, họ phải mạo hiểm trong hành trình gian khổ để vượt Đại Tây Dương: Maryland được thành lập năm 1634 để làm nơi cư trú của giáo dân Công giáo La Mã, Rhode Island (1636) là một thuộc địa khoan dung với tất cả các tôn giáo, Connecticut (1639) cho tín đồ Công Lý hội (Congregational Church). Tỉnh Carolina được thành lập năm 1663. Sau khi Đồn Amsterdam đầu hàng năm 1634, Anh giành quyền kiểm soát thuộc địa Tân Hà Lan của Hà Lan và đổi tên thành New York. Điều này được chính thức hóa trong cuộc đàm phán sau Chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ hai, trao đổi Suriname.[35] Trong năm 1681, William Penn thành lập thuộc địa Pennsylvania. Các thuộc địa Mỹ có ít thành công về tài chính hơn so với các thuộc địa tại Caribe, nhưng có diện tích lớn đất nông nghiệp tốt và thu hút số lượng lớn các di dân người Anh vốn ưa thích khí hậu ôn đới tại đó.[36]

Năm 1670, Quốc vương Charles II cấp đặc quyền để hợp thành tổ chức Công ty Vịnh Hudson, được độc quyền về mậu dịch da lông thú tại một khu vực được gọi là Đất Rupert, lãnh thổ này sau đó hình thành một bộ phận lớn của Quốc gia tự trị Canada. Người Pháp thường xuyên tân công các công sự và trạm mậu dịch do Công ty thành lập, người Pháp cũng thiết lập thuộc địa mậu dịch da lông thú của mình tại Tân Pháp liền kề.[37]

Hai năm sau, Công ty Hoàng gia châu Phi được thành lập, được Quốc vương Charles cấp độc quyền giao dịch để cung cấp nô lệ cho các thuộc địa của Anh tại Caribe. Ngay từ đầu, chế độ nô lệ là cơ sở của Đế quốc Anh ở Tây Ấn. Cho đến khi bãi bỏ việc buôn bán nô lệ vào năm 1807, Anh chịu trách nhiệm cho việc vận chuyển 3,5 triệu nô lệ người châu Phi đến châu Mỹ, chiếm 1/3 toàn bộ nô lệ vận chuyển qua Đại Tây Dương.[38] Để tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch này, nhiều công sự được thành lập trên bờ biển Tây Phi, chẳng hạn như đảo James, Accra và đảo Bunce. Tại Caribe thuộc Anh, tỷ lệ của dân số gốc Phi tăng từ 25% năm 1650 lên khoảng 80% vào năm 1780, và tại 13 thuộc địa là từ 10% đến 40% trong cùng kỳ (phần lớn ở các thuộc địa miền Nam).[39] Đối với các thương nhân nô lệ, giao dịch này cực kỳ sinh lợi, và đã trở thành một trụ cột kinh tế chính cho các thành phố phía tây Anh như BristolLiverpool, hình thành góc thứ ba của cái gọi là mậu dịch tam giác với châu Phi và châu Mỹ. Các điều kiện khắc nghiệt và mất vệ sinh trên tàu chở nô lệ và chế độ ăn uống nghèo nàn dẫn đến tỷ lệ tử vong trong vận chuyển Phi-Mỹ trung bình là một phần bảy.[40]

Trong năm 1695, Quốc hội Scotland cấp một đặc quyền cho Công ty Scotland, công ty thiết lập một khu định cư tại eo đất Panama vào năm 1698. Bị những người thực dân Tây Ban Nha tại Tân Grenada lân cận bao vây, và bị ảnh hưởng từ bệnh sốt rét, thuộc địa bị từ bỏ hai năm sau đó. Kế hoạch Darien là một thảm họa tài chính đối với Scotland —1/4 vốn của Scotland[41] bị mất trong thương vụ- kết thúc hy vọng của Scotland về việc thành lập đế quốc hải ngoại riêng. Điều này cũng có hậu quả chính trị lớn, thuyết phục chính phủ của cả Anh và Scotland về giá trị của một liên minh các các quốc gia, thay vì chỉ có quân chủ chung.[42] Điều này được thực hiện năm 1707 bằng Hiệp định Liên minh, thành lập Vương quốc Anh.

Kình địch với Hà Lan tại châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo đài St. George được thành lập tại Madras năm 1639

Vào đoạn cuối của thế kỷ 16, Anh và Hà Lan bắt đầu thách thức sự độc quyền mậu dịch của Bồ Đào Nha với châu Á, hình thành các công ty cổ phần tư nhân để tài trợ cho các hành trình - Công ty Đông Ấn AnhCông ty Đông Ấn Hà Lan, được ban đặc quyền lần lượt vào năm 1600 và 1602. Mục đích chủ yếu của những công ty này là khai thác mậu dịch gia vị sinh lợi[43], một nỗ lực tập trung chủ yếu vào hai khu vực: quần đảo Đông Ấn, và đầu mối quan trọng trong mạng lưới mậu dịch là Ấn Độ. Tại đây, họ cạnh tranh bá quyền mậu dịch với Bồ Đào Nha và với nhau.[44] Mặc dù cuối cùng Anh sẽ làm lu mờ quyền lực thực dân của Hà Lan, nhưng trong một giai đoạn ngắn Hà Lan có tiến bộ hơn về hệ thống tài chính[45] và ba cuộc chiến tranh với Anh trong thế kỷ 17 giúp họ có một vị thế mạnh hơn tại châu Á. Thái độ thù địch ngưng sau Cách mạng Vinh quang năm 1688 khi một người Hà Lan là William xứ Orange đăng cơ vương vị Anh, mang lại hòa bình giữa Anh và Hà Lan. Hai quốc gia thỏa thuận giao mậu dịch gia vị của quần đảo Đông Ấn cho Hà Lan và ngành công nghiệp dệt của Ấn Độ cho Anh, nhưng lợi nhuận của ngành dệt may sớm vượt qua mặt hàng gia vị, và đến năm 1720, doanh số bán hàng của công ty Anh vượt qua công ty Hà Lan.[45]

Chiến tranh với Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa bình giữa Anh và Hà Lan năm 1688 có nghĩa là hai quốc gia bước vào chiến tranh Chín năm với tư cách là đồng minh. Tuy nhiên, xung đột tại châu Âu và hải ngoại giữa liên minh Pháp, Tây Ban Nha và liên minh Anh-Hà Lan khiến đến kết quả là Anh trở thành một thế lực thực dân mạnh hơn Hà Lan, nguyên nhân là Hà Lan buộc phải dành một phần lớn ngân sách quân sự của họ cho chiến tranh trên bộ tốn kém tại châu Âu.[46] Thế kỷ 18 chứng kiến Anh (sau 1707 là Anh Liên hiệp) nổi lên thành cường quốc thực dân chi phối thế giới, và Pháp trở thành đối thủ chính trên vũ đài đế quốc.[47]

Hạm đội Pháp bị đánh chìm tại Québec năm 1759

Sự kiện Carlos II của Tây Ban Nha từ trần vào năm 1700 và người thừa kế Tây Ban Nha và đế quốc thực dân của nó là Philippe [Felipe] xứ Anjou, một cháu trai của Quốc vương Pháp, làm nổi lên triển vọng về sự hợp nhất Pháp và Tây Ban Nha cũng như các thuộc địa của họ, một trạng thái mà Anh và các cường quốc khác ở châu Âu không chấp nhận được.[48] Năm 1701, Anh, Bồ Đào Nha và Hà Lan đứng về phía Đế quốc La Mã Thần thánh chống lại Tây Ban Nha và Pháp trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, kéo dài cho đến 1714.

Sau khi Hiệp ước Utrecht được thông qua, Felipe từ bỏ quyền mình và hậu duệ đối với vương vị Pháp, và Tây Ban Nha mất đi đế quốc của mình tại châu Âu.[48] Đế quốc Anh mở rộng lãnh thổ: Anh chiếm được NewfoundlandAcadia từ Pháp; Gibraltar và Minorca từ Tây Ban Nha. Gibraltar trở thành một căn cứ hải quân quan trọng và cho phép Anh kiểm soát điểm ra vào Địa Trung Hải. Minorca đã được trả lại cho Tây Ban Nha sau Hiệp ước Amiens năm 1802 được ký kết. Tây Ban Nha cũng nhượng quyền Asiento (cho phép bán nô lệ ở các thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ) sinh lợi cho Anh.[49]

Trong các thập niên giữa của thế kỷ 18, có vài lần phát sinh xung đột quân sự trên tiểu lục địa Ấn Độ, gọi là các cuộc Chiến tranh Carnatic, khi Công ty Đông Ấn Anh và Công ty Đông Ấn Pháp chiến đấu bên các quân chủ địa phương để lấp đầy khoảng trống để lại khi Đế quốc Mogul suy tàn. Trận Plassey diễn ra vào năm 1757, trong đó quân Anh dưới quyền Robert Clive đánh bại Nawab của Bengal và đồng minh Pháp của ông ta, dẫn đến việc Công ty Đông Ấn Anh kiểm soát Bengal và là thế lực quân sự và chính trị lớn tại Ấn Độ.[50] Pháp còn lại quyền kiểm soát các lãnh thổ tách rời của họ song với các hạn chế về quân sự và một nghĩa vụ hỗ trợ cho các quốc gia tòng thuộc của Anh, kết thúc hy vọng kiểm soát Ấn Độ của Pháp.[51] Trong các thập niên sau, Công ty Đông Ấn Anh dần tăng cường kích thước lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của họ, tiến hành cai trị trực tiếp hoặc thông qua các quân chủ địa phương dưới sự răng đe vũ lực từ Quân đội Ấn Độ thuộc Anh- đại đa số trong đó là các sepoy người Ấn.[52]

Đấu tranh giữa Anh và Pháp tại Ấn Độ chỉ là một mặt trận trong Chiến tranh Bảy năm (1756–1763) có quy mô toàn cầu, liên quan đến Pháp, Anh và các cường quốc châu Âu khác. Sự kiện ký kết Hiệp định Paris (1763) có các kết quả quan trọng cho tương lai của Đế quốc Anh. Tại Bắc Mỹ, tương lai cường quốc thực dân của Pháp tại đây kết thúc hữu hiệu bằng việc công nhận yêu sách của Anh đối với Đất Rupert,[37] và nhượng Tân Pháp cho Anh (để lại một cộng đồng Pháp ngữ đáng kể dưới quyền kiểm soát của Anh ) và nhượng Louisiana cho Tây Ban Nha. Tây Ban Nha nhượng Florida cho Anh. Cùng với chiến thắng trước Pháp tại Ấn Độ, kết quả của Chiến tranh Bảy năm là Anh trở thành cường quốc hàng hải hùng mạnh nhất thế giới.[53]

Sự nổi lên của "Đệ nhị đế quốc"[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Mỹ

Trong các thập niên 1760 và 1770, các quan hệ giữa Mười ba thuộc địa và Anh trở nên căng thẳng hơn, chủ yếu do của sự phẫn uất trước các nỗ lực của Quốc hội Anh nhằm quản lý và đánh thuế những thực dân Mỹ mà không có sự đồng ý của họ.[54] Tình trạng này đương thời được tóm tắt thông qua khẩu hiệu "Không đại biểu, không nộp thuế". Cách mạng Mỹ bắt đầu bằng việc bác bỏ uy quyền của Quốc hội và tiến tới tự quản. Nhằm đối phó, Anh phái binh sĩ đi tái lập quyền cai trị trực tiếp, dẫn đến bùng nổ chiến tranh vào năm 1775. Sang năm 1776, the Hợp chúng quốc tuyên bố độc lập. Sự tham gia của Pháp trong chiến tranh vào năm 1778 làm nghiên cân bằng quân sự theo hướng có lợi cho người Mỹ và sau một thất bại quyết định tại Yorktown vào năm 1781, Anh bắt đầu thương lượng các điều khoản hòa bình. Độc lập của Hoa Kỳ được công nhân tại Hòa ước Paris năm 1783.[55]

Để mất một bộ phận lớn của Bắc Mỹ thuộc Anh, đương thời chúng là tài sản hải ngoại đông dân nhất của Anh, sự kiện này được một số sử gia xác định là sự chuyển tiếp giữa đế quốc "thứ nhất" và "thứ nhì",[56] trong đó Anh chuyển chú ý của mình từ châu Mỹ sang châu Á, Thái Bình Dương, và sau đó là châu Phi. Của cải của các quốc gia của Adam Smith được xuất bản năm 1776 thì lập luận rằng các thuộc địa là dư thừa, và rằng mậu dịch tự do sẽ thay thế các chính sách trọng thương cũ vốn biểu thị đặc điểm cho giai đoạn đầu của khuếch trương thuộc địa, bắt nguồn từ chủ nghĩa bảo hộ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nga.[53][57] Tăng trưởng mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Anh sau năm 1783 dường như xác nhận quan điểm của Smith rằng kiểm soát chính trị không phải là tất yếu đối với thành công kinh tế.[58][59]

Các sự kiện tại Hoa Kỳ tác động đến chính sách của Anh tại Canada, tại đây có 40.000 đến 100.000[60] người Trung thành chiến bại di cư từ Hoa Kỳ sau khi độc lập.[61] 14.000 người Trung thành đến các thung lũng sông Saint John và sông Saint Croix, đương thời là bộ phận của Nova Scotia, họ cảm thấy quá xa tỉnh lị tại Halifax, do đó Luân Đôn tách New Brunswick thành một thuộc địa riêng biệt vào năm 1784.[62] Đạo luật Hiến pháp 1791 lập ra các tỉnh Thượng Canada (chủ yếu Anh ngữ) và Hạ Canada (chủ yếu Pháp ngữ) nhằm xoa dịu căng thẳng giữa các cộng đồng người Pháp và người Anh, và thi hành các hệ thống chinh phủ tương tự như tại Anh, với mục đích khẳng định quyền lực đế quốc và không cho phép kiểu kiểm soát nhân dân đối với chính phủ- được cho là dẫn đến Cách mạng Mỹ.[63]

Căng thẳng giữa Anh và Hoa Kỳ lại leo thang thành chiến tranh trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon, do Anh nỗ lực cắt đứt mậu dịch của Hoa Kỳ với Pháp và nhảy lên các tàu của Hoa Kỳ để bắt những người sinh tại Anh nhập ngũ Hải quân Hoàng gia. Hoa Kỳ tuyên chiến, dẫn đến Chiến tranh năm 1812, và xâm chiếm lãnh thổ Canada, song biên giới tiền chiến được tác xác nhận qua Hiệp định Ghent 1814, đảm bảo tương lai của Canada sẽ tách biệt với Hoa Kỳ.[64][65]

Thám hiểm Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ của James Cook là phải tìm lục địa phương nam giả định Terra Australis

Kể từ năm 1718, việc đày ải đến các thuộc địa Mỹ là một hình phạt cho nhiều tội phạm hình sự khác nhau tại Anh, với khoảng một nghìn tù nhân được vận chuyển vượt Đại Tây Dương mỗi năm.[66] Sau khi để mất 13 thuộc địa, Ạnh buộc phải tìm một vị trí thay thế, và đến năm 1783 thì Chính phủ Anh quay sang các vùng đất mới phát hiện tại Úc.[67] Bờ biển phía tây của Úc được người châu Âu phát hiện từ hành trình của nhà thám hiểm Willem Jansz người Hà Lan năm 1606, và sau này được Công ty Đông Ấn Hà Lan đặt tên là Tân Hà Lan,[68] nhưng không có nỗ lực thuộc địa hóa tại Úc. Năm 1770, James Cook phát hiện bờ biển phía đông của Úc trong một hành trình khoa học đến Nam Thái Bình Dương, và yêu sách lục địa cho Anh, đặt tên là New South Wales.[69] Năm 1778, nhà thực vật học trong hành trình của Cook là Joseph Banks đệ trình các bằng chứng cho chính phủ về sự thích hợp của vịnh Botany đối với việc thiết lập khu định cư hình sự, và đến năm 1787 thì loạt tù nhân đầu tiên khởi hành, đến nơi vào năm 1788.[70] Anh tiếp nhận vận chuyển tù nhân đến Úc cho đến năm 1840.[71] Những thuộc địa Úc đã trở thành nhà xuất khẩu có lợi nhuận từ lông cừu và vàng,[72] chủ yếu là do các phong trào tìm vàng tại thuộc địa Victoria, khiến thủ đô Melbourne của thuộc địa này trở thành thành phố giàu nhất thế giới[73] và thành phố lớn nhất sau London trong Đế quốc Anh.[74]

Trong hành trình của mình, James Cook cũng đã đến New Zealand, nhà thám hiểm Hà Lan Abel Tasman phát hiện lãnh thổ này từ năm 1642. James Cook yêu sách đảo BắcNam cho quân chủ Anh lần lượt vào năm 1769 và 1770. Ban đầu, tương tác giữa người bản địa Maori và người châu Âu đã được giới hạn trong việc giao dịch hàng hoá. Người châu Âu tăng cường định cư trong suốtnhững thập niên đầu của thế kỷ 19, với nhiều trạm mậu dịch được thành lập, đặc biệt là tại đảo Bắc. Năm 1839, Công ty New Zealand công bố kế hoạch mua những vùng đất rộng lớn và thiết lập các thuộc địa tại New Zealand. Ngày 6 Tháng 2 năm 1840, Thuyền trưởng William Hobson và khoảng 40 tù trưởng MaoriHiệp ước Waitangi.[75] Hiệp ước này được nhiều người cho là văn kiện sáng lập New Zealand,[76] nhưng diễn giải khác biệt của các phiên bản tiếng Maori và tiếng Anh của văn kiện[77] có nghĩa là nó tiếp tục là một nguồn tranh chấp.[78]

Chiến tranh với Napoléon[sửa | sửa mã nguồn]

Anh lại gặp thách thức trước nước Pháp của Napoléon Bonaparte, cuộc chiến không giống như các chiến tranh từng xảy ra, đại diện cho một tranh đua ý thức hệ giữa hai quốc gia.[79] Không chỉ có vị thế của Anh trên thế giới bị đe dọa: Napoléon từng đe dọa xâm chiến bản thân Anh, cũng giống như quân đội của ông từng thực hiên với nhiều quốc gia trên lục địa châu Âu.

Trận Waterloo đã kết thúc bằng thất bại của Napoléon

Các cuộc chiến tranh Napoléon khiến người Anh buộc phải đầu tư một lượng vốn lớn và tài nguyên để giành chiến thắng. Hải quân Hoàng gia Anh phong tỏa các cảng của Pháp, và giành được một chiến thắng quyết định trước một hạm đội Pháp-Tây Ban Nha tại Trafalgar vào năm 1805. Các thuộc địa hải ngoại cũng bị tấn công và chiếm đóng, bao gồm cả của Hà Lan- bị Napoléon sáp nhập vào năm 1810. Cuối cùng Pháp bị một liên minh các quân đội châu Âu đánh bại vào năm 1815.[80] Anh một lần nữa lại là bên hưởng lợi từ các hòa ước: Pháp nhượng quần đảo Ionia, Malta (mà họ lần lượt chiếm đóng năm 1797, 1798), Mauritius, St Lucia, và Tobago, Tây Ban Nha nhượng Trinidad, Hà Lan nhượng Guyana và Thuộc địa Cape. Anh trả Guadeloupe, Martinique, Guiana thuộc Pháp, và Réunion cho Pháp, và JavaSuriname Hà Lan, trong khi nắm quyền kiểm soát của Tích Lan (1795-1815).[81]

Bãi bỏ chế độ nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự ủng hộ từ phong trào bãi nô Anh, Quốc hội Anh ban hành Đạo luật buôn bán nô lệ vào năm 1807, theo đó bãi bỏ việc buôn bán nô lệ trong đế quốc. Năm 1808, Sierra Leone được chỉ định là một thuộc địa chính thức của Anh cho các nô lệ được giải phóng.[82] Đạo luật Bãi nô được thông qua vào năm 1833, bãi bỏ chế độ nô lệ tại Đế quốc Anh vào ngày 1 tháng 8 năm 1834 (ngoại trừ St. Helena, Tích Lan và các lãnh thổ do Công ty Đông Ấn Anh quản lý, song những ngoại lệ bị bãi bỏ sau đó). Theo Đạo luật, nô lệ được giải phóng hoàn toàn sau một khoảng thời gian từ 4 đến 6 năm "học nghề".[83]

"Thế kỷ đế quốc" của Anh (1815-1914)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ chi tiết Đế quốc Anh năm 1886, những lãnh thổ do Đế quốc Anh cai trị được tô màu trên bản đồ.

Từ năm 1815 đến 1914 là khoảng thời gian mà một số sử gia cho là "thế kỷ đế quốc" của Anh,[84][85] họ mở rộng lãnh thổ của mình lên tới 10.000.000 dặm vuông Anh (26.000.000 km2) và khoảng 400 triệu người.[86] Chiến thắng trước Napoléon giúp Anh không còn bất kỳ đối thủ quốc tế đáng gờm nào, ngoại trừ với Nga tại Trung Á.[87] Không gặp thách thức trên biển, Anh tiếp nhận vai trò là cảnh sát toàn cầu, về sau còn được gọi là Pax Britannica ("Thái bình Anh quốc"),[88] và chính sách đối ngoại "cô lập quang vinh". Cùng với việc kiểm soát chính thức áp đặt lên các thuộc địa của mình, vị thế chi phối của Anh trong mậu dịch thế giới có nghĩa rằng họ kiểm soát hữu hiệu nền kinh tế của nhiều quốc gia, như Trung Quốc, ArgentinaXiêm La, mà một vài nhà sử học gọi là "đế quốc phi chính thức".[89][90]

Sức mạnh đế quốc của Anh được củng cố bằng tàu hơi nướcđiện báo, các công nghệ mới được phát minh trong nửa cuối của thế kỷ 19, cho phép họ kiểm soát và phòng thủ đế quốc. Đến năm 1902, Đế quốc Anh được liên kết với nhau bởi một mạng lưới cáp điện báo, được gọi là All Red Line.[91]

Công ty Đông Ấn tại châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ấn Độ thuộc Anh
Một biếm họa chính trị của Benjamin Disraeli (1804–1881). Câu ghi chú là "New crowns for old ones!"

Công ty Đông Ấn Anh tiến hành mở rộng lãnh thổ của Đế quốc Anh tại châu Á. Quân đội của Công ty ban đầu gia nhập lực lượng với Hải quân Hoàng gia trong Chiến tranh Bảy năm, và hai bên tiếp tục hợp tác trên các chiến trường nằm ngoài Ấn Độ: trục xuất quân Napoléon khỏi Ai Cập (1799), chiếm Java từ Hà Lan (1811), thu nhận Singapore (1819) và Malacca (​​1824) và đánh chiếm Miến Điện (1826).[87]

Từ căn cứ tại Ấn Độ, Công ty tiến hành mậu dịch xuất khẩu thuốc phiện sinh lợi ngày càng tăng sang Trung Quốc kể từ thập niên 1730. Hoạt động mậu dịch này trở thành bất hợp pháp kể từ khi nó bị nhà Thanh cấm vào năm 1729, song việc này giúp đảo nghịch sự mất cân bằng thương mại do Anh nhập khẩu trà vốn khiến một lượng lớn bạc đổ từ Anh sang Trung Quốc.[92] Năm 1839, chính quyền Trung Quốc tại Quảng Châu cho tịch thu hơn 2 vạn hòm thuốc phiện, dẫn đến việc Anh tấn công Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất và dẫn đến việc người Anh chiếm đảo Hồng Kông- đương thời là một khu dân cư nhỏ.[93]


Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, Quân chủ Anh bắt đầu đảm nhiệm một vao trò lớn ngày càng tăng trong các sự vụ của Công ty. Một loạt đạo luật của Quóc hội được thông qua, gồm có Đạo luật Điều tiết 1773, Đạo luật Ấn Độ Pitt 1784 và Đạo luật Đặc quyền 1813 mà theo đó quy định các công việc của Công ty và thiết lập chủ quyền của Quân chủ dối với các lãnh thổ mà Công ty giành được.[94] Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 dẫn đến kết thúc sự tồn tại của Công ty, xung đột này bắt đầu bằng một cuộc binh biến của các sepoy.[95] Khởi nghĩa kéo dài trong sáu tháng thì kết thúc, với thiệt hại nặng về nhân mạng cho cả hai bên. Năm sau đó, Chính phủ Anh giải thể Công ty và đảm nhiệm kiểm soát trực tiếp đối với Ấn Độ thông qua Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1858, thiết lập Ấn Độ thuộc Anh, một toàn quyền được bổ nhiệm để quản lý Ấn Độ và Nữ vương Victoria được tôn làm Nữ hoàng Ấn Độ.[96] Ấn Độ trở thành tài sản có giá trị lớn nhất của Đế quốc, "Minh châu của Quân chủ", và là nguồn quan trọng nhất đối với sức mạnh của Anh.[97]

Một loạt thất bát mùa màng nghiêm trọng xảy ra vào cuối thế kỷ 19 dẫn đến nạn đói lan rộng tại tiểu lục địa Ấn Độ, trong đó ước tính có trên 15 triệu người chết. Công ty Đông Ấn Anh không tiến hành bất kỳ chính sách phối hợp nào để đối phó với nạn đói trong thời kỳ họ cai trị. Sau đó, khi Anh cai trị trực tiếp Ấn Độ, các ủy ban được thiết lập sau mỗi nạn đói để điều tra nguyên nhân và thi hành các chính sách mới, điều này diễn ra cho đến đầu thập niên 1900 để có một hiệu quả.[98]

Suy yếu rồi tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển lớn mạnh của ĐứcHoa Kỳ đã làm sói mòi sự dẫn đầu về kinh tế của Anh cuối thế kỷ 19. Sau đó những căng thẳng về kinh tế và chính trị giữa Đức và Anh là những nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, trong đó Anh phải dựa chủ yếu vào đế quốc của mình. Cuộc chiến đã tạo ra những khó khăn về tài chính cho Anh, và dù Đế quốc Anh đã đạt được sự mở rộng lãnh thổ lớn nhất sau cuộc chiến, nhưng Anh không còn là một cường quốc số một về quân sự và công nghiệp. Chiến tranh thế giới lần hai chứng kiến việc các thuộc địa Anh ở Đông Nam Á bị quân phiệt Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm tổn thương uy tín của Anh và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Trong vòng hai năm cuối cuộc chiến, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ.

Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như là một phần của phong trào phi thuộc địa hóa của các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc trao trả Hồng Kông về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Sau độc lập, nhiều quốc gia đã gia nhập Khối thịnh vượng chung Anh, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một lãnh đạo, đó là Nữ vương Elizabeth II của Anh. 14 thuộc địa khác vẫn chịu sự quản lý của Anh, những thuộc địa đó được gọi là lãnh thổ hải ngoại Anh Quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ferguson, Niall (2004). Empire, The rise and demise of the British world order and the lessons for global power. Basic Books. tr. ix. ISBN 0-465-02328-2. 
  2. ^ Maddison 2001, các trang. 98, 242.
  3. ^ Ferguson 2004, p. 15.
  4. ^ Niall Ferguson, The rise and demise of the British world order and the lessons for global power, trang 2.
  5. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 257
  6. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 224
  7. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 1
  8. ^ a ă Ferguson 2004, tr. 3.
  9. ^ Andrews 1985, tr. 45.
  10. ^ Ferguson 2004, tr. 4.
  11. ^ Canny, tr. 35.
  12. ^ Thomas, các trang 155–158
  13. ^ Ferguson 2004, tr. 7.
  14. ^ Canny, tr. 62.
  15. ^ Lloyd, các trang 4–8.
  16. ^ Canny, tr. 7.
  17. ^ Kenny, tr. 5.
  18. ^ Taylor, tr. 119,123.
  19. ^ Andrews, trang. 187.
  20. ^ Andrews, trang. 188.
  21. ^ Canny, trang. 63.
  22. ^ Canny, các trang. 63–64.
  23. ^ Canny, trang. 70.
  24. ^ Canny, trang. 34.
  25. ^ James, trang. 17.
  26. ^ Canny, trang. 71.
  27. ^ Canny, trang. 221.
  28. ^ Lloyd, các trang. 22–23.
  29. ^ Lloyd, trang. 32.
  30. ^ Lloyd, các trang. 33, 43.
  31. ^ Lloyd, các trang. 15–20.
  32. ^ Andrews, các trang. 316, 324–326.
  33. ^ Andrews, các trang. 20–22.
  34. ^ James, trang. 8.
  35. ^ Lloyd, trang. 40.
  36. ^ Ferguson 2004, các trang. 72–73.
  37. ^ a ă Buckner, trang. 25.
  38. ^ Ferguson 2004, trang. 62.
  39. ^ Canny, trang. 228.
  40. ^ Marshall, các trang. 440–64.
  41. ^ Magnusson, trang. 531.
  42. ^ Macaulay, trang. 509.
  43. ^ Pagden, Anthony (2003):Peoples and Empires: A Short History of European Migration, Exploration, and Conquest, from Greece to the Present, trang 118
  44. ^ Lloyd: Empire: the history of the British Empire, trang 13
  45. ^ a ă Ferguson 2004, trang. 19.
  46. ^ Canny, trang. 441.
  47. ^ Pagden, trang. 90.
  48. ^ a ă Shennan, các trang. 11–17.
  49. ^ James, trang. 58.
  50. ^ Smith, p. 17.
  51. ^ Bandyopādhyāẏa, pp. 49–52
  52. ^ Smith, pp. 18–19.
  53. ^ a ă Pagden, p. 91.
  54. ^ Ferguson 2004, p. 84.
  55. ^ Marshall, pp. 312–23.
  56. ^ Canny, p. 92.
  57. ^ James, p. 120.
  58. ^ James, p. 119.
  59. ^ Marshall, p. 585.
  60. ^ Zolberg, p. 496.
  61. ^ Games, pp. 46–48.
  62. ^ Kelley & Trebilcock, p. 43.
  63. ^ Smith, p. 28.
  64. ^ Latimer, pp. 8, 30–34, 389–92.
  65. ^ Marshall, pp. 388.
  66. ^ Smith, tr. 20.
  67. ^ Smith, các trang. 20–21.
  68. ^ Mulligan & Hill, các trang. 20–23.
  69. ^ Brittain and the Dominions, t. 159.
  70. ^ James, p. 142.
  71. ^ Britain and the Dominions, p. 159.
  72. ^ Fieldhouse, các trang. 145–149
  73. ^ Cervero, Robert B. (1998). The Transit Metropolis: A Global Inquiry. Chicago: Island Press. tr. 320. ISBN 1-55963-591-6. 
  74. ^ Statesmen's Year Book 1889
  75. ^ Smith, tr. 45.
  76. ^ “Waitangi Day”. History Group, New Zealand Ministry for Culture and Heritage. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  77. ^ Porter, tr. 579.
  78. ^ Mein Smith, tr. 49.
  79. ^ James, p. 152.
  80. ^ Lloyd, các trang. 115–118.
  81. ^ James, tr. 165.
  82. ^ Porter, tr. 14.
  83. ^ Hinks, tr. 129.
  84. ^ Hyam, tr. 1.
  85. ^ Smith, tr. 71.
  86. ^ Parsons, tr. 3.
  87. ^ a ă Porter, tr. 401.
  88. ^ Porter, tr. 332.
  89. ^ Porter, tr. 8.
  90. ^ Marshall, các trang. 156–57.
  91. ^ Dalziel, các trang. 88–91.
  92. ^ Martin, tr. 146–148.
  93. ^ Janin, tr. 28.
  94. ^ Keay, p. 393
  95. ^ Parsons, pp. 44–46.
  96. ^ Smith, pp. 50–57.
  97. ^ Brown, p. 5.
  98. ^ Marshall, pp. 133–34.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]