Đế quốc Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đế chế Anh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Anh
Quốc kỳ
Toàn bộ các khu vực trên thế giới từng là bộ phận của Đế quốc Anh. Các lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh có tên được gạch chân màu đỏ.
Toàn bộ các khu vực trên thế giới từng là bộ phận của Đế quốc Anh. Các lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh có tên được gạch chân màu đỏ.

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 18. Vào đỉnh cao của mình, đây là đế quốc lớn nhất trong lịch sử, và là thế lực toàn cầu đứng đầu trong hơn một thế kỷ.[1] Đến 1922, Đế quốc Anh cai trị khoảng 458 triệu người, chiếm 1/8 dân số thế giới lúc đó[2] và bao phủ diện tích hơn 33.700.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu.[3] Những di sản về văn hóa, ngôn ngữ của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Tại đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn".

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ 15 và 16, Tây Ban NhaBồ Đào Nha đi tiên phong trong phong trào châu Âu thám hiểm thế giới, và trong quá trình đó đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Chứng kiến thịnh vượng lớn mà những đế quốc thực dân này giành được, Anh, PhápHà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹchâu Á.[4] Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ 17 và 18 giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc MỹẤn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của Anh (và cả Pháp[5]) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, ÁoNga.[6][7]

Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ độc lập vào năm 1783 sau Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến Anh mất một số thuộc địa sởm nhất và đông dân nhất của mình. Sự chú ý của Anh nhanh chóng chuyển sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của Napoléon Bonaparte năm 1815, Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Nhiều thuộc địa của dân da trắng được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.

Đến đầu thế kỷ 20, sự phát triển lớn mạnh của ĐứcHoa Kỳ làm xói mòi một số dẫn đầu về kinh tế của Anh. Các căng thẳng về kinh tế và chính trị sau đó giữa Đức và Anh là những nguyên nhân chính dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất, trong đó Anh phải dựa nhiều vào đế quốc của mình. Xung đột đặt ra căng thẳng lớn về tài chính và dân cư cho Anh. Mặc dù Đế quốc Anh đạt được sự mở rộng lãnh thổ lớn nhất ngay sau cuộc chiến, nhưng Anh không còn là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm tổn thương uy tín của Anh và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ.

Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997. Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, đó là Nữ vương Elizabeth II. 14 thuộc địa khác vẫn chịu sự quản lý của Anh, chúng được gọi là lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh.

Nguồn gốc (1497-1583)[sửa | sửa mã nguồn]

Một mô hình của The Matthew, chiếc thuyền mà thuyền trưởng John Cabot dùng để đến Tân thế giới trong hành trình thứ hai của mình

Nền móng của Đế quốc Anh được đặt từ khi AnhScotland còn là hai vương quốc riêng biệt. Sau những thành công của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong việc thăm hiểm hải ngoại, đến năm 1496 Quốc vương Henry VII của Anh ủy quyền cho John Cabot dẫn đầu một hành trình để khám phá một tuyến đường tới châu Á thông qua Bắc Đại Tây Dương.[8] Cabot khởi hành năm 1497, tức 5 năm sau khi người châu Âu phát hiện châu Mỹ, và mặc dù đổ bộ thành công lên bờ biển của Newfoundland, nhưng không nỗ lực để thành lập một thuộc địa (nhầm tưởng như Cristoforo Colombo, rằng ông đến được châu Á) [9]. Cabot dẫn đầu một chuyến đi đến châu Mỹ vào năm sau, nhưng không nghe được tin gì về các tàu của ông nữa.[10]

Không có nỗ lực hơn nữa để thiết lập các thuộc địa Anh tại châu Mỹ cho đến khi Nữ vương Elizabeth I trị vì trong những thập niên cuối của thế kỷ 16.[11] Cuộc Cải Cách Tin Lành khiến Anh và Tây Ban Nha Công giáo trở thành kẻ thù.[8] Năm 1562, Quân chủ Anh cấp quyền cho John HawkinsFrancis Drake tiến hành các cuộc tấn công bắt nô lệ chống lại tàu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngoài khơi bờ biển Tây Phi [12] với mục tiêu thâm nhập vào hệ thống mậu dịch Đại Tây Dương. Nỗ lực này bị đẩy lui và sau đó, khi chiến tranh Anh-Tây Ban Nha trở nên khốc liệt, Elizabeth giúp đỡ tàu lùng tiếp tục tấn công các cảng Tây Ban Nha tại châu Mỹ và những tàu vận chuyển vượt Đại Tây Dương trở về, chất đầy kho báu của Tân thế giới.[13] Trong khi đó, những nhà văn có ảnh hưởng như Richard HakluytJohn Dee (người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "British Empire")[14] bắt đầu thúc giục thành lập một đế quốc riêng của Anh. Đến thời điểm này, Tây Ban Nha đã trở thành thế lực chiếm ưu thế tại châu Mỹ, Bồ Đào Nha đã thiết lập các cơ sở mậu dịch và các tiền đồn từ bờ biển châu Phi và Brasil sang Trung Quốc, và Pháp đã bắt đầu thuộc địa hóa sông Saint-Laurent, sau này trở thành Tân Pháp.[15]

Mặc dù Anh đi sau các cường quốc châu Âu khác trong việc thiết lập các thuộc địa hải ngoại, nhưng trong thế kỷ 16 họ đã tiến hành đưa những người Tin Lành từ Anh và Scotland đến Ireland, tiếp nối tiền lệ người Norman xâm chiếm Ireland vào năm 1169.[16][17] Nhiều người đóng góp vào công cuộc thiết lập các đồn điền Ireland cũng đóng một vai trò trong thuộc địa hóa ban đầu tại Bắc Mỹ, đặc biệt là một nhóm được gọi là "những người đàn ông miền Tây".[18]

"Đệ nhất đế quốc" (1583-1783)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1578, Nữ vương Elizabeth I ban một giấy phép cho Humphrey Gilbert trong việc khám phá và thăm hiểm hải ngoại.[19] Năm đó, Gilbert khởi hành đi Tây Ấn với ý định tham gia vào việc cướp biển và thiết lập một thuộc địa tại Bắc Mỹ, nhưng chuyến đi bị hủy bỏ trước khi thuyền vượt qua Đại Tây Dương.[20][21] Năm 1583, ông bắt tay vào một nỗ lực thứ hai, lần này tới được đảo Newfoundland và tuyên bố chủ quyền cảng của đảo này thuộc về Anh, mặc dù không để người định cư lại. Gilbert qua đời trong chuyến đi trở về Anh. Sự nghiệp của ông được người em trai cùng mẹ khác cha của mình là Walter Raleigh kế tục, người này được Elizabeth I cấp giấy phép vào năm 1584. Trong năm đó, Raleigh cho thiết lập một thuộc địa tại đảo Roanoke trên bờ biển Bắc Carolina ngày nay, tuy nhiên do thiếu đồ dự trữ nên thuộc địa thất bại.[22]

Năm 1603, Quốc vương James VI của Scotland trở thành Quốc vương Anh, và một năm sau đó, ông đàm phán với người Tây Ban Nha ký vào Hiệp ước London, chấm dứt tình trạng thù địch bấy lâu nay. Lúc này Anh trong trạng thái hòa bình với kình địch chủ yếu, họ chú ý chuyển đổi từ cướp bóc cơ sở hạ tầng thuộc địa của các quốc gia khác sang việc thành lập các thuộc địa hải ngoại của mình.[23] Đế quốc Anh bắt đầu thành hình vào đầu thế kỷ 17, khi Anh thuộc địa hóa Bắc Mỹ và các đảo nhỏ trong vùng Caribe, và thành lập những công ty tư nhân, đáng chú ý nhất là Công ty Đông Ấn Anh, để quản lý các thuộc địa và mậu dịch hải ngoại. Thời kỳ cho đến khi Mười ba thuộc địa bị mất sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ kết thúc vào cuối thế kỷ 18 được các sử gia gọi là "Đế quốc Anh đầu tiên".[24]

Châu Mỹ, châu Phi và mua bán nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mười ba thuộc địa

Caribe ban đầu có các thuộc địa quan trọng và sinh lợi nhất cho Anh,[25] sau khi nhiều nỗ lực thuộc địa hóa vùng này bị thất bại. Một nỗ lực nhằm lập một thuộc địa tại Guyana kéo dài trong vòng hai năm, và thất bại trong mục tiêu chính là tìm vàng.[26] Các thuộc địa St Lucia (1605) và Grenada (1609) cũng nhanh chóng bị hủy bỏ, nhưng các khu định cư được thiết lập thành công tại St. Kitts (1624), Barbados (1627) và Nevis (1628).[27] Các thuộc địa nhanh chóng tuân theo hệ thống các đồn điền trồng mía mà người Bồ Đào Nha áp dụng thành công tại Brasil, hệ thống này dựa trên lao động nô lệ, và ban đầu dựa vào các tàu của Hà Lan bán nô lệ và mua đường.[28] Để đảm bảo rằng lợi nhuận tăng lên của hoạt động này vẫn nằm trong tay Anh, Quốc hội ra sắc lệnh vào năm 1651 rằng chỉ có tàu Anh được qua lại để giao dịch trong các thuộc địa của Anh. Điều này dẫn đến tình trạng thù địch với Hà Lan, và một loạt các cuộc chiến giữa Anh và Hà Lan phát sinh, cuối cùng làm củng cố vị thế của Anh tại châu Mỹ và làm mất uy thế của Hà Lan.[29] Năm 1655, Anh sáp nhập đảo Jamaica từ Tây Ban Nha, và thành công trong thuộc địa hóa Bahamas vào năm 1666.[30]

Thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ, 1763–1776

Khu định cư vĩnh cửu đầu tiên của Anh tại châu Mỹ được thành lập tại Jamestown vào năm 1607, do John Smith lãnh đạo và Công ty Virginia quản lý. Anh tiến hành định cư và tuyên bố chủ quyền đối với Bermuda sau khi kỳ hạm của công ty đắm tại đây vào năm 1609, và đến năm 1615 quần đảo này được chuyển giao sang công ty Somers Isles.[31] Đặc quyền của Công ty Virginia bị thu hồi vào năm 1624 và quân chủ đảm nhiệm quyền quản lý trực tiếp Virginia, do đó thành lập Thuộc địa Virginia.[32] Công ty London và Bristol được thành lập năm 1610 với mục đích lập ra một khu định cư vĩnh cửu trên đảo Newfoundland, nhưng phần lớn là không thành công.[33] Năm 1620, Plymouth được thành lập để làm nơi cư trú cho những người phân lập tôn giáo Thanh giáo mà sau này được biết đến là những người Pilgrim.[34] Chạy trốn khỏi ngược đãi tôn giáo sẽ trở thành động cơ để nhiều người Anh muốn trở thành người khai hoang, họ phải mạo hiểm trong hành trình gian khổ để vượt Đại Tây Dương: Maryland được thành lập năm 1634 để làm nơi cư trú của giáo dân Công giáo La Mã, Rhode Island (1636) là một thuộc địa khoan dung với tất cả các tôn giáo, Connecticut (1639) cho tín đồ Công Lý hội (Congregational Church). Tỉnh Carolina được thành lập năm 1663. Sau khi Đồn Amsterdam đầu hàng năm 1634, Anh giành quyền kiểm soát thuộc địa Tân Hà Lan của Hà Lan và đổi tên thành New York. Điều này được chính thức hóa trong cuộc đàm phán sau Chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ hai, trao đổi Suriname.[35] Trong năm 1681, William Penn thành lập thuộc địa Pennsylvania. Các thuộc địa Mỹ có ít thành công về tài chính hơn so với các thuộc địa tại Caribe, nhưng có diện tích lớn đất nông nghiệp tốt và thu hút số lượng lớn các di dân người Anh vốn ưa thích khí hậu ôn đới tại đó.[36]

Năm 1670, Quốc vương Charles II cấp đặc quyền để hợp thành tổ chức Công ty Vịnh Hudson, được độc quyền về mậu dịch da lông thú tại một khu vực được gọi là Đất Rupert, lãnh thổ này sau đó hình thành một bộ phận lớn của Quốc gia tự trị Canada. Người Pháp thường xuyên tân công các công sự và trạm mậu dịch do Công ty thành lập, người Pháp cũng thiết lập thuộc địa mậu dịch da lông thú của mình tại Tân Pháp liền kề.[37]

Sơ đồ Mậu dịch tam giác

Hai năm sau, Công ty Hoàng gia châu Phi được thành lập, được Quốc vương Charles cấp độc quyền giao dịch để cung cấp nô lệ cho các thuộc địa của Anh tại Caribe. Ngay từ đầu, chế độ nô lệ là cơ sở của Đế quốc Anh tại Tây Ấn. Cho đến khi bãi bỏ việc buôn bán nô lệ vào năm 1807, Anh chịu trách nhiệm cho việc vận chuyển 3,5 triệu nô lệ người châu Phi đến châu Mỹ, chiếm 1/3 toàn bộ nô lệ vận chuyển qua Đại Tây Dương.[38] Để tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch này, nhiều công sự được thành lập trên bờ biển Tây Phi, chẳng hạn như đảo James, Accra và đảo Bunce. Tại Caribe thuộc Anh, tỷ lệ của dân số gốc Phi tăng từ 25% năm 1650 lên khoảng 80% vào năm 1780, và tại 13 thuộc địa là từ 10% đến 40% trong cùng kỳ (phần lớn tại các thuộc địa miền Nam).[39] Đối với các thương nhân nô lệ, giao dịch này cực kỳ sinh lợi, và đã trở thành một trụ cột kinh tế chính cho các thành phố phía tây Anh như BristolLiverpool, hình thành góc thứ ba của cái gọi là mậu dịch tam giác với châu Phi và châu Mỹ. Các điều kiện khắc nghiệt và mất vệ sinh trên tàu chở nô lệ và chế độ ăn uống nghèo nàn dẫn đến tỷ lệ tử vong trong vận chuyển Phi-Mỹ trung bình là một phần bảy.[40]

Trong năm 1695, Quốc hội Scotland cấp một đặc quyền cho Công ty Scotland, công ty thiết lập một khu định cư tại eo đất Panama vào năm 1698. Bị những người thực dân Tây Ban Nha tại Tân Grenada lân cận bao vây, và bị ảnh hưởng từ bệnh sốt rét, thuộc địa bị từ bỏ hai năm sau đó. Kế hoạch Darien là một thảm họa tài chính đối với Scotland —1/4 vốn của Scotland[41] bị mất trong thương vụ- kết thúc hy vọng của Scotland về việc thành lập đế quốc hải ngoại riêng. Điều này cũng có hậu quả chính trị lớn, thuyết phục chính phủ của cả Anh và Scotland về giá trị của một liên minh các quốc gia, thay vì chỉ có quân chủ chung.[42] Điều này được thực hiện năm 1707 bằng Hiệp định Liên minh, thành lập Vương quốc Anh Liên hiệp.

Kình địch với Hà Lan tại châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo đài St. George được thành lập tại Madras năm 1639

Vào đoạn cuối của thế kỷ 16, Anh và Hà Lan bắt đầu thách thức sự độc quyền mậu dịch của Bồ Đào Nha với châu Á, hình thành các công ty cổ phần tư nhân để tài trợ cho các hành trình - Công ty Đông Ấn AnhCông ty Đông Ấn Hà Lan, được ban đặc quyền lần lượt vào năm 1600 và 1602. Mục đích chủ yếu của những công ty này là khai thác mậu dịch gia vị sinh lợi[43], một nỗ lực tập trung chủ yếu vào hai khu vực: quần đảo Đông Ấn, và đầu mối quan trọng trong mạng lưới mậu dịch là Ấn Độ. Tại đây, họ cạnh tranh bá quyền mậu dịch với Bồ Đào Nha và với nhau.[44] Mặc dù cuối cùng Anh sẽ làm lu mờ quyền lực thực dân của Hà Lan, nhưng trong một giai đoạn ngắn Hà Lan có tiến bộ hơn về hệ thống tài chính[45] và ba cuộc chiến tranh với Anh trong thế kỷ 17 giúp họ có một vị thế mạnh hơn tại châu Á. Thái độ thù địch ngưng sau Cách mạng Vinh quang năm 1688 khi một người Hà Lan là William xứ Orange đăng cơ vương vị Anh, mang lại hòa bình giữa Anh và Hà Lan. Hai quốc gia thỏa thuận giao mậu dịch gia vị của quần đảo Đông Ấn cho Hà Lan và ngành công nghiệp dệt của Ấn Độ cho Anh, nhưng lợi nhuận của ngành dệt may sớm vượt qua mặt hàng gia vị, và đến năm 1720, doanh số bán hàng của công ty Anh vượt qua công ty Hà Lan.[45]

Chiến tranh với Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa bình giữa Anh và Hà Lan năm 1688 có nghĩa là hai quốc gia bước vào chiến tranh Chín năm với tư cách là đồng minh. Tuy nhiên, xung đột tại châu Âu và hải ngoại giữa liên minh Pháp, Tây Ban Nha và liên minh Anh-Hà Lan dẫn đến kết quả là Anh trở thành một thế lực thực dân mạnh hơn Hà Lan, nguyên nhân là Hà Lan buộc phải dành một phần lớn ngân sách quân sự của họ cho chiến tranh trên bộ tốn kém tại châu Âu.[46] Thế kỷ 18 chứng kiến Anh (sau 1707 là Anh Liên hiệp) nổi lên thành cường quốc thực dân chi phối thế giới, và Pháp trở thành đối thủ chính trên vũ đài đế quốc.[47]

Hạm đội Pháp bị đánh chìm tại Québec năm 1759

Sự kiện Carlos II của Tây Ban Nha từ trần vào năm 1700 và người thừa kế Tây Ban Nha và đế quốc thực dân của nó là Philippe [Felipe] xứ Anjou, một cháu nội của Quốc vương Pháp, làm nổi lên triển vọng về sự hợp nhất Pháp và Tây Ban Nha cũng như các thuộc địa của họ, một trạng thái mà Anh và các cường quốc khác tại châu Âu không chấp nhận được.[48] Năm 1701, Anh, Bồ Đào Nha và Hà Lan đứng về phía Đế quốc La Mã Thần thánh chống lại Tây Ban Nha và Pháp trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, kéo dài cho đến 1714.

Sau khi Hiệp ước Utrecht được thông qua, Felipe từ bỏ quyền của mình và hậu duệ đối với vương vị Pháp, và Tây Ban Nha mất đi đế quốc của mình tại châu Âu.[48] Đế quốc Anh mở rộng lãnh thổ: Anh chiếm được NewfoundlandAcadia từ Pháp; Gibraltar và Minorca từ Tây Ban Nha. Gibraltar trở thành một căn cứ hải quân quan trọng và cho phép Anh kiểm soát điểm ra vào Địa Trung Hải. Minorca được trả lại cho Tây Ban Nha sau Hiệp ước Amiens năm 1802 được ký kết. Tây Ban Nha cũng nhượng quyền Asiento (cho phép bán nô lệ tại các thuộc địa Tây Ban Nha tại châu Mỹ) sinh lợi cho Anh.[49]

Trong các thập niên giữa của thế kỷ 18, có vài lần phát sinh xung đột quân sự trên tiểu lục địa Ấn Độ, gọi là các cuộc Chiến tranh Carnatic, khi Công ty Đông Ấn Anh và Công ty Đông Ấn Pháp chiến đấu bên các quân chủ địa phương để lấp đầy khoảng trống để lại khi Đế quốc Mogul suy tàn. Trận Plassey diễn ra vào năm 1757, trong đó quân Anh dưới quyền Robert Clive đánh bại Nawab của Bengal và đồng minh Pháp của ông ta, dẫn đến việc Công ty Đông Ấn Anh kiểm soát Bengal và là thế lực quân sự và chính trị lớn tại Ấn Độ.[50] Pháp còn lại quyền kiểm soát các lãnh thổ tách rời của họ song với các hạn chế về quân sự và một nghĩa vụ hỗ trợ cho các quốc gia tòng thuộc của Anh, kết thúc hy vọng kiểm soát Ấn Độ của Pháp.[51] Trong các thập niên sau, Công ty Đông Ấn Anh dần tăng cường kích thước lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của họ, tiến hành cai trị trực tiếp hoặc thông qua các quân chủ địa phương dưới sự răn đe vũ lực từ Quân đội Ấn Độ thuộc Anh- đại đa số trong đó là các sepoy người Ấn.[52]

Đấu tranh giữa Anh và Pháp tại Ấn Độ chỉ là một mặt trận trong Chiến tranh Bảy năm (1756–1763) có quy mô toàn cầu, liên quan đến Pháp, Anh và các cường quốc châu Âu khác. Sự kiện ký kết Hiệp định Paris (1763) có các kết quả quan trọng cho tương lai của Đế quốc Anh. Tại Bắc Mỹ, tương lai cường quốc thực dân của Pháp tại đây kết thúc hữu hiệu bằng việc công nhận yêu sách của Anh đối với Đất Rupert,[37] và nhượng Tân Pháp cho Anh (để lại một cộng đồng Pháp ngữ đáng kể dưới quyền kiểm soát của Anh) và nhượng Louisiana cho Tây Ban Nha. Tây Ban Nha nhượng Florida cho Anh. Cùng với chiến thắng trước Pháp tại Ấn Độ, kết quả của Chiến tranh Bảy năm là Anh trở thành cường quốc hàng hải hùng mạnh nhất thế giới.[53]

Sự nổi lên của "Đệ nhị đế quốc"[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Mỹ

Trong các thập niên 1760 và 1770, các quan hệ giữa Mười ba thuộc địa và Anh trở nên căng thẳng hơn, chủ yếu do của sự phẫn uất trước các nỗ lực của Quốc hội Anh nhằm quản lý và đánh thuế những người thực dân Mỹ mà không có sự đồng ý của họ.[54] Tình trạng này đương thời được tóm tắt thông qua khẩu hiệu "Không đại biểu, không nộp thuế". Cách mạng Mỹ bắt đầu bằng việc bác bỏ uy quyền của Quốc hội và tiến tới tự quản. Nhằm đối phó, Anh phái binh sĩ đi tái lập quyền cai trị trực tiếp, dẫn đến bùng nổ chiến tranh vào năm 1775. Sang năm 1776, the Hợp chúng quốc tuyên bố độc lập. Sự tham gia của Pháp trong chiến tranh vào năm 1778 làm nghiêng cân bằng quân sự theo hướng có lợi cho người Mỹ và sau một thất bại quyết định tại Yorktown vào năm 1781, Anh bắt đầu thương lượng các điều khoản hòa bình. Độc lập của Hoa Kỳ được công nhân trong Hòa ước Paris năm 1783.[55]

Để mất một bộ phận lớn của Bắc Mỹ thuộc Anh, đương thời chúng là tài sản hải ngoại đông dân nhất của Anh, sự kiện này được một số sử gia xác định là sự chuyển tiếp giữa đế quốc "thứ nhất" và "thứ nhì",[56] trong đó Anh chuyển chú ý của mình từ châu Mỹ sang châu Á, Thái Bình Dương, và sau đó là châu Phi. Của cải của các quốc gia của Adam Smith được xuất bản năm 1776 thì lập luận rằng các thuộc địa là dư thừa, và rằng mậu dịch tự do sẽ thay thế các chính sách trọng thương cũ vốn biểu thị đặc điểm cho giai đoạn đầu của khuếch trương thuộc địa, bắt nguồn từ chủ nghĩa bảo hộ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nga.[53][57] Tăng trưởng mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Anh sau năm 1783 dường như xác nhận quan điểm của Smith rằng kiểm soát chính trị không phải là tất yếu đối với thành công kinh tế.[58][59]

Các sự kiện tại Hoa Kỳ tác động đến chính sách của Anh tại Canada, tại đây có 40.000 đến 100.000[60] người Trung thành chiến bại di cư từ Hoa Kỳ sau khi độc lập.[61] 14.000 người Trung thành đến các thung lũng sông Saint John và sông Saint Croix, đương thời là bộ phận của Nova Scotia, họ cảm thấy quá xa tỉnh lị tại Halifax, do đó Luân Đôn tách New Brunswick thành một thuộc địa riêng biệt vào năm 1784.[62] Đạo luật Hiến pháp 1791 lập ra các tỉnh Thượng Canada (chủ yếu Anh ngữ) và Hạ Canada (chủ yếu Pháp ngữ) nhằm xoa dịu căng thẳng giữa các cộng đồng người Pháp và người Anh, và thi hành các hệ thống chinh phủ tương tự như tại Anh, với mục đích khẳng định quyền lực đế quốc và không cho phép kiểu kiểm soát nhân dân đối với chính phủ- được cho là dẫn đến Cách mạng Mỹ.[63]

Căng thẳng giữa Anh và Hoa Kỳ lại leo thang thành chiến tranh trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon, do Anh nỗ lực cắt đứt mậu dịch của Hoa Kỳ với Pháp và nhảy lên các tàu của Hoa Kỳ để bắt những người sinh tại Anh nhập ngũ Hải quân Hoàng gia. Hoa Kỳ tuyên chiến, dẫn đến Chiến tranh năm 1812, và xâm chiếm lãnh thổ Canada, song biên giới tiền chiến được tái xác nhận qua Hiệp định Ghent 1814, đảm bảo tương lai của Canada sẽ tách biệt với Hoa Kỳ.[64][65]

Thám hiểm Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ của James Cook là phải tìm lục địa phương nam giả định Terra Australis

Kể từ năm 1718, việc đày ải đến các thuộc địa Mỹ là một hình phạt cho nhiều tội phạm hình sự khác nhau tại Anh, với khoảng một nghìn tù nhân được vận chuyển vượt Đại Tây Dương mỗi năm.[66] Sau khi để mất 13 thuộc địa, Ạnh buộc phải tìm một vị trí thay thế, và đến năm 1783 thì Chính phủ Anh quay sang các vùng đất mới phát hiện tại Úc.[67] Bờ biển phía tây của Úc được người châu Âu phát hiện từ hành trình của nhà thám hiểm người Hà Lan Willem Jansz năm 1606, và sau này được Công ty Đông Ấn Hà Lan đặt tên là Tân Hà Lan,[68] nhưng không có nỗ lực thuộc địa hóa tại Úc. Năm 1770, James Cook phát hiện bờ biển phía đông của Úc trong một hành trình khoa học đến Nam Thái Bình Dương, và yêu sách lục địa cho Anh, đặt tên là New South Wales.[69] Năm 1778, nhà thực vật học trong hành trình của Cook là Joseph Banks đệ trình các bằng chứng cho chính phủ về sự thích hợp của vịnh Botany đối với việc thiết lập khu định cư hình sự, và đến năm 1787 thì loạt tù nhân đầu tiên khởi hành, đến nơi vào năm 1788.[70] Anh tiếp tục vận chuyển tù nhân đến Úc cho đến năm 1840.[71] Những thuộc địa Úc trở thành các nhà xuất khẩu có lợi nhuận từ lông cừu và vàng,[72] chủ yếu là do các phong trào tìm vàng tại thuộc địa Victoria, khiến thủ đô Melbourne của thuộc địa này trở thành thành phố giàu nhất thế giới[73] và thành phố lớn nhất sau London trong Đế quốc Anh.[74]

Trong hành trình của mình, James Cook cũng đến New Zealand, nhà thám hiểm Hà Lan Abel Tasman phát hiện lãnh thổ này từ năm 1642. James Cook yêu sách đảo BắcNam cho quân chủ Anh lần lượt vào năm 1769 và 1770. Ban đầu, tương tác giữa người bản địa Maori và người châu Âu được giới hạn trong việc giao dịch hàng hoá. Người châu Âu tăng cường định cư trong suốt những thập niên đầu của thế kỷ 19, với nhiều trạm mậu dịch được thành lập, đặc biệt là tại đảo Bắc. Năm 1839, Công ty New Zealand công bố kế hoạch mua những vùng đất rộng lớn và thiết lập các thuộc địa tại New Zealand. Ngày 6 Tháng 2 năm 1840, Thuyền trưởng William Hobson và khoảng 40 tù trưởng MaoriHiệp ước Waitangi.[75] Hiệp ước này được nhiều người cho là văn kiện sáng lập New Zealand,[76] nhưng diễn giải khác biệt của các phiên bản tiếng Maori và tiếng Anh của văn kiện[77] có nghĩa là nó tiếp tục là một nguồn tranh chấp.[78]

Chiến tranh với Napoléon[sửa | sửa mã nguồn]

Anh lại gặp thách thức trước nước Pháp của Napoléon Bonaparte, cuộc chiến không giống như các chiến tranh từng xảy ra, đại diện cho một tranh đua ý thức hệ giữa hai quốc gia.[79] Không chỉ có vị thế của Anh trên thế giới bị đe dọa: Napoléon từng đe dọa xâm chiến bản thân Anh, cũng giống như quân đội của ông từng thực hiện với nhiều quốc gia trên lục địa châu Âu.

Trận Waterloo đã kết thúc bằng thất bại của Napoléon

Các cuộc chiến tranh Napoléon khiến người Anh buộc phải đầu tư một lượng lớn vốn và tài nguyên để giành chiến thắng. Hải quân Hoàng gia Anh phong tỏa các cảng của Pháp, và giành được một chiến thắng quyết định trước một hạm đội Pháp-Tây Ban Nha tại Trafalgar vào năm 1805. Các thuộc địa hải ngoại cũng bị tấn công và chiếm đóng, bao gồm cả của Hà Lan- bị Napoléon sáp nhập vào năm 1810. Cuối cùng Pháp bị một liên minh các quân đội châu Âu đánh bại vào năm 1815.[80] Anh một lần nữa lại là bên hưởng lợi từ các hòa ước: Pháp nhượng quần đảo Ionia, Malta (mà họ lần lượt chiếm đóng năm 1797, 1798), Mauritius, Saint Lucia, và Tobago, Tây Ban Nha nhượng Trinidad, Hà Lan nhượng Guyana và Thuộc địa Cape. Anh trả Guadeloupe, Martinique, Guiana thuộc Pháp, và Réunion cho Pháp, và JavaSuriname cho Hà Lan, trong khi nắm quyền kiểm soát đối với Tích Lan (1795-1815).[81]

Bãi bỏ chế độ nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự ủng hộ từ phong trào bãi nô Anh, Quốc hội Anh ban hành Đạo luật buôn bán nô lệ vào năm 1807, theo đó bãi bỏ việc buôn bán nô lệ trong đế quốc. Năm 1808, Sierra Leone được chỉ định là một thuộc địa chính thức của Anh cho các nô lệ được giải phóng.[82] Đạo luật Bãi nô được thông qua vào năm 1833, bãi bỏ chế độ nô lệ tại Đế quốc Anh vào ngày 1 tháng 8 năm 1834 (ngoại trừ St. Helena, Tích Lan và các lãnh thổ do Công ty Đông Ấn Anh quản lý, song những ngoại lệ bị bãi bỏ sau đó). Theo Đạo luật, nô lệ được giải phóng hoàn toàn sau một khoảng thời gian từ 4 đến 6 năm "học nghề".[83]

"Thế kỷ đế quốc" của Anh (1815-1914)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ chi tiết Đế quốc Anh năm 1886, những lãnh thổ do Đế quốc Anh cai trị được tô màu trên bản đồ.

Từ năm 1815 đến 1914 là khoảng thời gian mà một số sử gia cho là "thế kỷ đế quốc" của Anh,[84][85] họ mở rộng lãnh thổ của mình thêm 10.000.000 dặm vuông Anh (26.000.000 km2) và khoảng 400 triệu người.[86] Chiến thắng trước Napoléon giúp Anh không còn bất kỳ đối thủ quốc tế đáng gờm nào, ngoại trừ với Nga tại Trung Á.[87] Không gặp thách thức trên biển, Anh tiếp nhận vai trò là cảnh sát toàn cầu, về sau còn được gọi là Pax Britannica ("Thái bình Anh quốc"),[88] và chính sách đối ngoại "cô lập quang vinh". Cùng với việc kiểm soát chính thức áp đặt lên các thuộc địa của mình, vị thế chi phối của Anh trong mậu dịch thế giới có nghĩa rằng họ kiểm soát hữu hiệu nền kinh tế của nhiều quốc gia, như Trung Quốc, ArgentinaXiêm La, mà một vài nhà sử học gọi là "đế quốc phi chính thức".[89][90]

Sức mạnh đế quốc của Anh được củng cố bằng tàu hơi nướcđiện báo, các công nghệ mới được phát minh trong nửa cuối của thế kỷ 19, cho phép họ kiểm soát và phòng thủ đế quốc. Đến năm 1902, Đế quốc Anh được liên kết với nhau bởi một mạng lưới cáp điện báo, được gọi là All Red Line.[91]

Công ty Đông Ấn tại châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ấn Độ thuộc Anh
Một biếm họa chính trị của Benjamin Disraeli (1804–1881). Câu ghi chú là "New crowns for old ones!"

Công ty Đông Ấn Anh tiến hành mở rộng lãnh thổ của Đế quốc Anh tại châu Á. Quân đội của Công ty ban đầu gia nhập lực lượng với Hải quân Hoàng gia trong Chiến tranh Bảy năm, và hai bên tiếp tục hợp tác trên các chiến trường nằm ngoài Ấn Độ: trục xuất quân Napoléon khỏi Ai Cập (1799), chiếm Java từ Hà Lan (1811), thu nhận Singapore (1819) và Malacca (​​1824) và đánh chiếm Miến Điện (1826).[87]

Từ căn cứ tại Ấn Độ, Công ty tiến hành mậu dịch xuất khẩu thuốc phiện sinh lợi ngày càng tăng sang Trung Quốc kể từ thập niên 1730. Hoạt động mậu dịch này trở thành bất hợp pháp kể từ khi nó bị nhà Thanh cấm vào năm 1729, song việc này giúp đảo nghịch sự mất cân bằng thương mại do Anh nhập khẩu trà vốn khiến một lượng lớn bạc đổ từ Anh sang Trung Quốc.[92] Năm 1839, chính quyền Trung Quốc tại Quảng Châu cho tịch thu hơn 2 vạn hòm thuốc phiện, dẫn đến việc Anh tấn công Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất và dẫn đến việc người Anh chiếm đảo Hồng Kông- đương thời là một khu dân cư nhỏ.[93]

Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, Quân chủ Anh bắt đầu đảm nhiệm một vai trò lớn ngày càng tăng trong các sự vụ của Công ty. Một loạt đạo luật của Quốc hội được thông qua, gồm có Đạo luật Điều tiết 1773, Đạo luật Ấn Độ Pitt 1784 và Đạo luật Đặc quyền 1813 mà theo đó quy định các công việc của Công ty và thiết lập chủ quyền của Quân chủ dối với các lãnh thổ mà Công ty giành được.[94] Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 dẫn đến kết thúc sự tồn tại của Công ty, xung đột này bắt đầu bằng một cuộc binh biến của các sepoy.[95] Khởi nghĩa kéo dài trong sáu tháng thì kết thúc, với thiệt hại nặng về nhân mạng cho cả hai bên. Năm sau đó, Chính phủ Anh giải thể Công ty và đảm nhiệm kiểm soát trực tiếp đối với Ấn Độ thông qua Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1858, thiết lập Ấn Độ thuộc Anh, một toàn quyền được bổ nhiệm để quản lý Ấn Độ và Nữ vương Victoria được tôn làm Nữ hoàng Ấn Độ.[96] Ấn Độ trở thành tài sản có giá trị lớn nhất của Đế quốc, "Minh châu của Quân chủ", và là nguồn quan trọng nhất đối với sức mạnh của Anh.[97]

Một loạt thất bát mùa màng nghiêm trọng xảy ra vào cuối thế kỷ 19 dẫn đến nạn đói lan rộng tại tiểu lục địa Ấn Độ, trong đó ước tính có trên 15 triệu người chết. Công ty Đông Ấn Anh không tiến hành bất kỳ chính sách phối hợp nào để đối phó với nạn đói trong thời kỳ họ cai trị. Sau đó, khi Anh cai trị trực tiếp Ấn Độ, các ủy ban được thiết lập sau mỗi nạn đói để điều tra nguyên nhân và thi hành các chính sách mới, điều này diễn ra cho đến đầu thập niên 1900 để có một hiệu quả.[98]

Kình địch với Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Kỵ binh Anh chống quân Nga tại Balaclava vào năm 1854

Trong thế kỷ 19, Đế quốc Anh và Đế quốc Nga ganh đua để lấp đầy các khoảng trống quyền lực bắt đầu từ việc Đế quốc Ottoman, vương triều QajarĐại Thanh suy sụp. Tình trạng kình địch tại Âu-Á này được gọi là "Ván cờ Lớn" (Great Game).[99] Như Anh lo ngại, các chiến thắng của Nga trước Ba TưOttoman biểu thị tham vọng đế quốc và khả năng của họ, làm dấy lên lo ngại tại Anh về một cuộc xâm chiếm bằng đường bộ vào Ấn Độ.[100] Năm 1839, Anh chuyển sang chiếm hữu trước bằng việc xâm chiếm Afghanistan, tuy nhiên Chiến tranh Afghanistan-Anh thứ nhất là một thảm họa đối với Anh.[81]

Khi Nga xâm chiếm khu vực Balkan của Ottoman vào năm 1853, lo ngại về ưu thế của Nga tại Địa Trung HảiTrung Đông khiến Anh và Pháp xâm chiếm bán đảo Krym để tiêu diệt năng lực hải quân của Nga.[81] Trong Chiến tranh Krym (1854–56) tiếp theo, các kỹ thuật mới của chiến tranh hiện đại được áp dụng,[101] và đây là chiến tranh toàn cầu duy nhất giữa Anh và thế lực đế quốc khác trong Pax Britannica, kết quả là một thất bại lừng lẫy đối với Nga.[81] Tình thế tại Trung Á vẫn chưa giải quyết được trong hai thập niên nữa, khi Anh sáp nhập Baluchistan vào năm 1876 và Nga sáp nhập Kirghizia, Kazakhstan, và Turkmenistan. Tuy nhiên, hai quốc gia đạt được một hiệp định về phạm vi ảnh hưởng của họ trong khu vực vào năm 1878, và trên toàn bộ các vấn đề còn tồn tại vào năm 1907 khi ký kết Hiệp ước thân thiện Nga-Anh.[102] Sự kiện Hải quân Nga bị người Nhật hủy diệt trong Hải chiến cảng Lữ Thuận trong khuôn khổ Chiến tranh Nga-Nhật 1904–05 cũng hạn chế mối đe dọa của Nga đối với Anh.[103]

Cape đến Cairo[sửa | sửa mã nguồn]

The Rhodes ColossusCecil Rhodes giang từ "Cape đến Cairo"

Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập Thuộc địa Cape tại mũi phía nam của châu Phi vào năm 1652 để làm một trạm cho các tàu của họ đi và rời các thuộc địa tại Đông Ấn. Anh chính thức thu được thuộc địa, và cư dân Afrikaner (hay Boer) có số lượng lớn của thuộc địa vào năm 1806, song chiếm được từ năm 1795 để ngăn chặn nó rơi vào tay người Pháp sau khi Pháp xâm chiếm Hà Lan.[104] Nhập cư từ Anh bắt đầu tăng lên sau năm 1820, họ đẩy hàng nghìn người Boer vốn phẫn uất trước sự cai trị của Anh về phía bắc, người Boer thành lập các nước cộng hòa độc lập của họ song hầu hết đều đoản mệnh, tình trạng này được gọi là Đại Di cư (Great Trek) và diễn ra vào cuối thập niên 1830 và đầu thập niên 1840.[105] Trong quá trình, những người Boer di cư đụng độ nhiều lần với người Anh, người Anh thì có chương trình riêng của mình nhằm khuếch trương thuộc địa tại Nam Phi và với vài chính thể châu Phi, bao gồm của người SothoZulu. Cuối cùng, người Boer thành lập hai nước cộng hòa có tuổi thọ lâu dài là: Cộng hòa Nam Phi hay Cộng hòa Transvaal (1852–77; 1881–1902) và Quốc gia Tự do Oranje (1854–1902).[106] Năm 1902, Anh chiếm đóng hai nước cộng hòa, dàn xếp một hiệp định với hai nước cộng hòa Boer sau Chiến tranh Boer thứ hai (1899–1902).[107]

Năm 1869, kênh đào Suez được khánh thành dưới thời Napoléon III, liên kết Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương. Ban đầu, Anh phản đối Kênh đào;[108] song khi nó khánh thành, giá trị chiến lược của nó nhanh chóng được công nhận và trở thành "tĩnh mạch cảnh của Đế quốc".[109] Năm 1875, chính phủ Bảo thủ của Benjamin Disraeli mua từ quân chủ Ai Cập đang mắc nợ là Isma'il Pasha 44% cổ phần của Kênh đào Suez với giá £4 triệu. Mặc dù điều này không trao cho Anh quyền kiểm soát lập tức thủy đạo chiến lược, song tạo cho Anh đòn bẩy. Kiểm soát tài chính chung Anh-Pháp đối với Ai Cập kết thúc khi Anh chiếm đóng hoàn toàn Ai Cập vào năm 1882.[110] Pháp vẫn là cổ đông đa số và nỗ lực làm suy yếu vị thế của Anh,[111] song một thỏa hiệp đạt được theo Hiệp định Constantinople 1888, theo đó biến Kênh đào thành một lãnh thổ trung lập chính thức.[112]

Hội nghị Berlin 1884–85 được tổ chức nhằm điều chỉnh cạnh tranh giữa các thế lực châu Âu trong cái được gọi là "Tranh giành châu Phi" theo định nghĩa "chiếm đóng hữu hiệu" với tư cách là tiêu chuẩn về công nhận quốc tế cho các yêu sách lãnh thổ.[113] Tranh giành tiếp tục trong thập niên 1890, và khiến Anh cân nhắc quyết định của mình vào năm 1885 để triệt thoái khỏi Sudan. Một lực lượng chung gồm quân Anh và Ai Cập đánh bại quân Mahdi vào năm 1896, và đẩy lui một cuộc xâm chiếm của Pháp tại Fashoda vào năm 1898. Sudan trên danh nghĩa nằm dưới chế độ quản lý chung Anh-Ai Cập, song trên thực tế là một thuộc địa của Anh.[114]

Những thâu tóm của Anh tại miền nam và miền đông châu Phi thúc đẩy Cecil Rhodes, nhà tiên phong của quá trình bành trướng của Anh tại châu Phi, đề xuất một đường sắt "Cape đến Cairo" liên kết Kênh đào Suez Canal quan trọng chiến lược đến miền Nam giàu khoáng sản.[115] Trong thập niên 1880 và 1890, Rhodes cùng với Công ty Nam Phi thuộc Anh do ông sở hữu chiếm đóng và sáp nhập các lãnh thổ mà sau đó được đặt là Rhodesia theo họ của ông.[116]

Cải biến tình trạng của các thuộc địa da trắng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành kinh tế chủ yếu của Canada xét theo số lao động và giá trị sản phẩm là kinh doanh gỗ. Ontario khoảng. 1900.

Con đường dẫn đến độc lập đối với các thuộc địa da trắng của Đế quốc Anh bắt đầu với Báo cáo Durham 1839, trong đó đề xuất chính phủ thống nhất và tự quản cho Thượng và Hạ Canada, như một giải pháp cho náo động chính trị tại đây.[117] Điều này bắt đầu bằng việc thông qua Đạo luật Liên minh năm 1840, theo đó thiết lập Tỉnh Canada. Quyền chính phủ trách nhiệm đầu tiên được cấp cho Nova Scotia vào năm 1848, và nhanh chóng được mở rộng cho các thuộc địa khác của Anh tại Bắc Mỹ. Khi Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh 1867, Canada, New Brunswick và Nova Scotia hợp nhất thành Quốc gia tự trị Canada, một bang liên được hưởng tự quản hoàn toàn với ngoại lệ là các quan hệ quốc tế.[118] Úc và New Zealand giành được mức độ tự quản tương tự sau năm 1900, khi các thuộc địa Úc liên bang hóa vào năm 1901.[119] Thuật ngữ "tình trạng quốc gia tự trị" chính thức được đưa ra tại Hội nghị Thuộc địa 1907.[120]

Các thập niên cuối của thế kỷ 19 chứng kiến các chiến dịch chính trị có phối hợp về quyền tự quản cho Ireland. Ireland được hợp nhất với Anh theo Đạo luật Liên minh 1800 sau khởi nghĩa Ireland 1798, và phải trải qua một nạn đói khắc nghiệt từ năm 1845 đến năm 1852. Quyền tự quản cho Ireland được Thủ tướng Anh William Gladstone ủng hộ, ông hy vọng rằng Ireland có thể tiếp bước Canada để trở thành một quốc gia tự trị trong đế quốc, song Dự luật Tự quản 1886 của ông bị thất bại tại Quốc hội. Mặc dù dự luật nếu được thông qua sẽ cấp cho Ireland ít quyền tự trị trong bản thân Anh so với các tỉnh của Canada trong liên bang của họ,[121] song nhiều nghị viên lo ngại rằng một Ireland độc lập cục bộ sẽ đặt ra một đe dọa an ninh cho Anh hoặc đánh dấu bắt đầu sự tan rã của Đế quốc.[122] Một dự luật tự quản thứ nhì cũng thất bại vì các nguyên nhân tương tự.[122] Một dự luật thứ ba được Quốc hội thông qua vào năm 1914, song không được thi hành do Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát, dẫn đến khởi nghĩa Phục Sinh 1916.[123]

Thời kỳ 1914–1945[sửa | sửa mã nguồn]

Bước sang thế kỷ 20, lo ngại bắt đầu tăng lên tại Anh rằng họ sẽ không còn có thể phòng thủ mẫu quốc và sự toàn vẹn của Đế quốc trong khi đương thời duy trì chính sách "cô lập vinh quang".[124] Đức nhanh chóng phát triển thành một cường quốc quân sự và công nghiệp, và nay được nhận định là đối thủ khả dĩ nhất trong bất kỳ chiến tranh tương lai nào. Công nhận rằng họ quá tải tại Thái Bình Dương[125] và bị đe dọa tại mẫu quốc trước Hải quân Đế quốc Đức, Anh lập một liên minh với Nhật Bản vào năm 1902, và với các cựu địch thủ Pháp và Nga lần lượt vào năm 1904 và 1907.[126]

Chiến tranh thế giới thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Các binh sĩ của Sư đoàn số 5 Úc chờ tấn công trong trận Fromelles, 19 tháng 7 năm 1916

Lo ngại chiến tranh với Đức của người Anh được hiển thị vào năm 1914 khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát. Anh nhanh chóng xâm chiếm và chiếm đóng hầu hết thuộc địa hải ngoại của Đức tại châu Phi. Tại Thái Bình Dương, Úc và New Zealand tương ứng chiếm đóng Tân Guinea thuộc ĐứcSamoa. Các kế hoạch phân chia hậu chiến Đế quốc Ottoman- tham gia chiến tranh bên phe Đức- được Anh và Pháp bí mật soạn thảo theo Hiệp định Sykes–Picot 1916. Hiệp định này không được tiết lộ cho Sharif của Mecca, là người mà Anh khuyến khích tiến hành một cuộc khởi nghĩa Ả Rập chống lại Ottoman, tạo ấn tượng rằng Anh ủng hộ thiết lập một quốc gia Ả Rập độc lập.[127]

Anh tuyên chiến với Đức và các đồng minh của họ, điều này cũng liên lụy đến các thuộc địa và quốc gia tự trị của Anh- những nguồn cung cấp quân sự, tài chính và tài nguyên vô giá. Trên 2,5 triệu binh sĩ phục vụ trong các quân đội của các quốc gia tự trị, cũng như có hành nghìn quân tình nguyện từ các thuộc địa vương thất.[128] Đóng góp của các binh sĩ Úc và New Zealand trong Chiến dịch Gallipoli 1915 chống Đế quốc Ottoman tạo một tác động rất lớn đến ý thức quốc gia tại quê hương, và đánh dấu một bước ngoặt trong chuyển biến Úc và New Zealand từ các thuộc địa sang các quốc gia. Người Canada nhận định trận Vimy Ridge với một quan niệm tương tự.[129] Đóng góp quan trọng của các quốc gia tự trị vào nỗ lực chiến tranh được Thủ tướng Anh David Lloyd George công nhận vào năm 1917 khi ông mời thủ tướng của các quốc gia tự trị tham gia một Nội các Chiến tranh Đế quốc để phối hợp chính sách đế quốc.[130]

Theo các điều khoản của Hòa ước Versailles kết thúc thế chiến vào năm 1919, đế quốc đạt đến quy mô tối đa khi có thêm 1.800.000 dặm vuông Anh (4.700.000 km2) và 13 triệu thần dân mới.[131] Các thuộc địa của Đức và Ottoman được phân cho các cường quốc Đồng Minh với vị thế Hội Quốc Liên ủy thác. Anh giành được quyền kiểm soát Palestine, Transjordan, Iraq, các bộ phận của CameroonTogo, và Tanganyika. Bản thân các quốc gia tự trị cũng giành được các lãnh thổ ủy thác riêng: Liên bang Nam Phi giành được Tây-Nam Phi (nay là Namibia), Úc giành được Tân Guinea thuộc Đức, và New Zealand giành được Tây Samoa. Nauru là một lãnh thổ ủy thác chung của Anh và hai quốc gia tự trị Thái Bình Dương.[132]

Thời kỳ giữa hai thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trật tự thế giới đang thay đổi mà bắt nguồn từ đại chiến, đặc biệt là Hoa Kỳ và Nhật Bản phát triển thành các cường quốc hải quân, và sự phát triển của các phong trào độc lập tại Ấn Độ và Ireland, dẫn đến một tái xét lớn trong chính sách đế quốc của Anh.[133] Buộc phải lựa chọn giữa liên kết với Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản, Anh quyết định không gia hạn liên minh với Nhật mà thay vào đó ký kết Hiệp định Hải quân Washington 1922, theo đó Anh chấp thuận đồng đẳng hải quân với Hoa Kỳ.[134] Quyết định này là nguồn gốc của nhiều tranh luận tại Anh trong thập niên 1930[135] khi các chính phủ quân phiệt nắm được quyền lực tại Nhật Bản và Đức một phần nhờ vào Đại khủng hoảng, do họ lo ngại rằng Đế quốc không thể tồn tại qua một cuộc tấn công đồng thời từ hai quốc gia.[136] Mặc dù vấn đề an ninh của đế quốc là một mối quan tâm nghiêm trọng tại Anh, đương thời Đế quốc mang tính sống còn với kinh tế Anh.[137]

Năm 1919, thất vọng bắt nguồn từ việc trì hoãn Ireland tự quản khiến các thành viên của Sinn Féin- một đảng ủng hộ độc lập và chiếm đa số ghế của Ireland trong Quốc hội Anh trong tổng tuyển cử 1918- thành lập một Nghị viện Ireland tại Dublin, tại đây độc lập của Ireland được tuyên bố. Quân đội Cộng hòa Ireland đồng thời bắt đầu một chiến tranh du kích chống chính quyền Anh.[138] Chiến tranh Anh-Ireland kết thúc vào năm 1921 trong một bế tắc và ký kết Hiệp định Anh-Ireland thiết lập Quốc gia Tự do Ireland, một quốc gia tự trị trong Đế quốc Anh, với độc lập nội bộ hữu hiệu song vẫn có liên kết về hiến pháp với Quân chủ Anh.[139] Bắc Ireland, gồm 6/21 quận của Ireland lập tức thi hành quyền lựa chọn theo hiệp định là duy trì tình trạng hiện hành trong Vương quốc Liên hiệp.[140]

George V cùng thủ tướng của Anh và các quốc gia tự trị trong Hội nghị Đế quốc 1926

Một cuộc đấu tranh tương tự bắt đầu tại Ấn Độ khi Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1919 không đáp ứng yêu cầu độc lập.[141] Lo ngại về các âm mưu cộng sản và ngoại quốc sau Âm mưu Ghadar khiến các hạn chế thời chiến được khôi phục theo các Đạo luật Rowlatt. Điều này dẫn đến căng thẳng,[142] đặc biệt là tại khu vực Punjab, tại đây các biện pháp đàn áp lên đến cực độ trong Thảm sát Amritsar. Dư luận tại Anh bị chia rẽ về tính đạo đức của sự kiện, giữa những người cho rằng nó cứu Ấn Độ khỏi tình trạng hỗn loạn, và những người cho rằng nó ghê tởm.[142] Phong trào bất hợp tác tiếp đó được ngưng lại vào tháng 3 năm 1922 sau sự kiện Chauri Chaura, và bất mãn tiếp tục âm ỉ trong 25 năm tiếp theo.[143]

Ai Cập được tuyên bố là một quốc gia bảo hộ của Anh khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát, đến năm 1922 thì được trao độc lập chính thức, song tiếp tục là một quốc gia tòng thuộc của Anh cho đến năm 1954. Các binh sĩ Anh duy trì đồn trú tại Ai Cập cho đến khi ký kết Hiệp định Anh-Ai Cập vào năm 1936,[144] theo đó nhất trí rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái song tiếp tục chiếm lĩnh và phòng thủ khu vực Kênh đào Suez. Đổi lại, Ai Cập được giúp đỡ để gia nhập Hội Quốc Liên.[145] Iraq là một lãnh thổ ủy trị của Anh từ năm 1920, và cũng giành được tư cách thành viên của Hội Quốc Liên nhân danh bản thân sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1932.[146] Tại Palestine, Anh đề xuất vấn đề hòa giải giữa các cộng đồng Ả Rập và Do Thái. Tuyên ngôn Balfour năm 1917 được hợp nhất vào các diều khoản ủy thác, cho rằng một tổ quốc cho người Do Thái sẽ được thiết lập tại Palestine, và những người Do Thái nhập cư được chấp thuận đến một hạn định do thế lực ủy thác xác định.[147] Điều này dẫn đến xung đột gia tăng với cư dân Ả Rập, họ khởi nghĩa công khai vào năm 1936. Do mối họa chiến tranh với Đức gia tăng trong thập niên 1930, Anh xét thấy sự ủng hộ của cư dân Ả Rập tại Trung Đông quan trọng hơn thiết lập một quê hương cho người Do Thái, và chuyển sang một lập trường thân Ả Rập, hạn chế người Do Thái nhập cư và dẫn đến kích hoạt một cuộc nổi loạn của người Do Thái.[127]

Thẩm quyền của các quốc gia tự trị được chế định chính sách đối ngoại riêng của mình, độc lập với Anh, được công nhận tại hội nghị Đế quốc 1923.[148] Yêu cầu của Anh về trợ giúp quân sự từ các quốc gia tự trị khi bùng phát Khủng hoảng Chanak vào năm trước đó bị Canada và Nam Phi bác bỏ, và Canada từ chối bị rằng buộc theo Hiệp ước Lausanne 1923.[149][150] Sau áp lực từ Ireland và Nam Phi, Hội nghị Đế quốc 1926 ban bố Tuyên ngôn Balfour, tuyên bố các quốc gia tự trị là "các cộng đồng tự trị trong Đế quốc Anh, bình đẳng về vị thế, chẳng bằng cách nào một bên phải lệ thuộc bên khác" trong một "Thịnh vượng chung của các Quốc gia Anh".[151] Tuyên bố này được trao bản chất pháp lý theo Quy chế Westminster 1931.[120] Các quốc hội của Canada, Úc, New Zealand, Liên bang Nam Phi, Quốc gia Tự do Ireland và Newfoundland nay độc lập với kiểm soát tư pháp của Anh, họ có thể hủy bỏ các luật Anh và Anh không còn có thể thông qua các luật cho họ mà không được họ tán thành.[152] Newfoundland quay lại tình trạng thuộc địa vào năm 1933 do các khó khăn tài chính trong Dại khủng hoảng.[153] Ireland tách xa Anh hơn nữa khi đưa ra một hiến pháp mới vào năm 1937, theo đó Ireland thực tế trở thành một quốc gia cộng hòa.[154]

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai,Tập đoàn quân thứ 8 gồm các đơn vị đến từ nhiều quốc gia khác nhau trong Đế quốc Anh và Thịnh vượng chung; họ chiến đấu trong các chiến dịch Bắc PhiÝ.

Anh tuyên chiến với Đức vào tháng 9 năm 1939, điều này bao gồm cả các thuộc địa vương thất và Ấn Độ song không tự động liên quan đến các quốc gia tự trị. Úc, Canada, New Zealand, Newfoundland và Nam Phi đều nhanh chóng tuyên chiến với Đức, song Quốc gia Tự do Ireland lựa chọn duy trì trung lập pháp lý trong suốt chiến tranh.[155]

Sau khi Đức chiếm đóng Pháp vào năm 1940, Anh và đế quốc cô độc chống lại Đức cho đến khi Liên Xô tham chiến vào năm 1941. Thủ tướng Anh Winston Churchill vận động thành công Tổng thống Franklin D. Roosevelt để Hoa Kỳ viện trợ quân sự, tuy nhiên Roosevelt vẫn chưa sẵn sàng yêu cầu Quốc hội đưa quốc gia vào chiến tranh.[156] Trong tháng 8 năm 1941, Churchill và Roosevelt họp và ký kết Hiến chương Đại Tây Dương, trong đó gồm có tuyên bố "quyền của toàn bộ các dân tộc được lựa chọn hình thức chính phủ mà họ cư trú" cần được tôn trọng. Diễn tả này không rõ ràng về việc nó ám chỉ các quốc gia châu Âu bị Đức xâm chiếm, hay các dân tộc bị các quốc gia châu Âu thuộc địa hóa, và sau này được giải thích khác nhau từ người Anh, người Mỹ, và các phong trào dân tộc.[157][158]

Trong tháng 12 năm 1941, Nhật Bản phát động tấn công Malaya thuộc Anh, căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, và Hồng Kông. Phản ứng của Churchill trước việc Hoa Kỳ tham chiến là Anh lúc này cầm chắc chiến thắng và tương lai của đế quốc là an toàn,[159] tuy nhiên cách thức mà người Anh nhanh chóng đầu hàng Nhật Bản làm tổn hại không thể cứu vãn địa vị và uy tín thế lực đế quốc của Anh.[160][161] Tổn hại nhiều nhất trong đó là thất thủ Singapore, đảo trước đó được ca ngợi là một pháo đài bất khả xâm phạm và là bản tương đương tại phương đông của Gibraltar.[162] Nhận thức rằng Anh không thể bảo vệ toàn bộ đế quốc, Úc và New Zealand tiến vào các quan hệ mật thiết hơn với Hoa Kỳ khi xuất hiện đe dọa từ lực lượng Nhật Bản. Kết quả là Hiệp ước ANZUS 1951 giữa Úc, New Zealand và Hoa Kỳ.[157]

Phi thuộc địa hóa và suy tàn (1945–1997)[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Anh và đế quốc là bên chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, song tác động của xung đột là sâu sắc, cả quốc nội và hải ngoại. Phần lớn châu Âu- một thuộc địa chi phối thế giới trong vài thế kỷ- bị đổ nát, và là nơi đóng quân của quân đội Hoa Kỳ và Liên Xô, hai quốc gia này giờ đây giữ cân bằng quyền lực toàn cầu.[163] Sau chiến tranh, Anh phá sản về cơ bản, tình trạng không trả được nợ chỉ được ngăn chặn vào năm 1946 sau dàn xếp một khoản vay $US 4,33 tỷ từ Hoa Kỳ,[164] phần trả cuối cùng của nó được hoàn trả vào năm 2006.[165] Đương thời, các phong trào chống thực dân nổi lên trong các thuộc địa của các quốc gia châu Âu. Tình thế thêm phức tạp do gia tăng Chiến tranh Lạnh kình địch giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Trên nguyên tắc, Hoa Kỳ và Liên Xô phản đối chủ nghĩa thực dân châu Âu, song thực tế đối với Hoa Kỳ chủ nghĩa chống cộng chiếm ưu thế so với chủ nghĩa chống đế quốc, và do đó Hoa Kỳ ủng hộ sự hiện diện tiếp tục của Đế quốc Anh nhằm cản trở sự khuếch trương của cộng sản.[166] Phát biểu "gió đổi chiều" có nghĩa cuối cùng là những ngày của Đế quốc Anh đang được đếm, và trên tất cả, Anh chấp thuận một chính sách giải thoát hòa bình với các thuộc địa của mình một khi các chính phủ ổn định, phi cộng sản hiện hữu để chuyển giao quyền lực. Điều này tương phản với các cường quốc châu Âu khác như Pháp và Bồ Đào Nha,[167] những quốc gia tiến hành các cuộc chiến tranh tốn kém và cuối cùng không thành công để giữ đế quốc của họ được nguyên vẹn. Từ năm 1945 đến năm 1965, số lượng người dưới quyền cai trị của Anh tại bên ngoài bản thân Anh giảm từ 700 triệu xuống năm triệu, ba triệu trong số đó là tại Hồng Kông.[168]

Giải thoát ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Công đảng ủng hộ phi thuộc địa hóa đắc cử trong tổng tuyển cử năm 1945 và nằm dưới quyền Clement Attlee, họ hành động nhanh chóng nhằm giải quyết vấn đề cấp thiết nhất mà đế quốc đối diện: Ấn Độ độc lập.[169] Hai chính đảng chủ yếu của Ấn Độ là Đảng Quốc Đại Ấn ĐộLiên minh người Hồi giáo tiến hành vận động về độc lập trong nhiều thập niên, song bất đồng về cách thức thực hiện. Đảng Quốc Đại tán thành một quốc gia Ấn Độ thế tục thống nhất, trong khi Liên minh người Hồi giáo thì lo ngại ưu thế từ người Ấn Độ giáo chiếm đa số, họ yêu cầu một quốc gia Hồi giáo riêng biệt cho các khu vực mà người Hồi giáo chiếm đa số. Bất ổn dân sự gia tăng và Hải quân Hoàng gia Ấn Độ có binh biến vào năm 1946 khiến Clement Attlee cam kết độc lập sẽ đến không sau năm 1948. Khi sự khẩn cấp của tình hình và nguy cơ nội chiến trở nên hiển nhiên, Phó vương mới được bổ nhiệm (và cuối cùng) là Louis Mountbatten vội vàng đẩy nhanh lên ngày 15 tháng 8 năm 1947.[170] Biên giới do người Anh vẽ về đại thể phân chia Ấn Độ thành các khu vực của người Ấn Độ giáo và người Hồi giáo, khiến cho hàng chục triệu người trở thành nhóm thiểu số tại các quốc gia mới là Ấn Độ và Pakistan.[171] Hàng triệu người Hồi giáo sau đó đi từ Ấn Độ sang Pakistan và người Ấn Độ giáo đi theo chiều ngược lại, và xung đột giữa hai cộng đồng làm thiệt mạng hàng trăm nghìn người. Miến Điện và Sri Lanka giành được độc lập vào năm 1948. Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka trở thành các thành viên của Thịnh vượng chung, trong khi Miến Điện lựa chọn không tham gia.[172]

Lãnh thổ ủy thác Palestine của Anh có một đa số người Ả Rập cư trú cạnh một thiểu số Do Thái, người Anh cũng phải đối diện với một vấn đề tương tự như tại Ấn Độ.[173] Vẫn đề phức tạp do một lượng lớn người tị nạn Do Thái tìm cách để được nhận đến Palestine sau Holocaust, trong khi người Ả Rập phản đối thành lập một quốc gia Do Thái. Nản lòng trước khó khăn của vấn đề, các cuộc tấn công từ các tổ chức bán quân sự Do Thái và gia tăng chi phí duy trì hiện diện quân sự, đến năm 1947 Anh tuyên bố rằng họ sẽ triệt thoái vào năm 1948 và để lại vấn đề cho Liên Hiệp Quốc giải quyết.[174] Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó bỏ phiếu cho một kế hoạch phân chia Palestine thành một quốc gia Do Thái và một quốc gia Ả Rập.

Sau thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế khởi thứ hai, các phong trào kháng Nhật tại Malaya chuyển chú ý của họ về phía Anh, còn Anh hành động nhanh chóng để tái kiểm soát thuộc địa, đánh giá đây là một nguồn cao su và thiếc.[175] Thực tế các chiến sĩ du kích chủ yếu là người cộng sản người Hoa Malaysia, điều này khiến nỗ lực của Anh nhằm dập tắt nổi dậy được sự ủng hộ của người Mã Lai theo Hồi giáo vốn chiếm đa số, với điều kiện là một khi nổi dậy bị dập tắt thì sẽ được công nhận độc lập.[175] Tình trạng khẩn cấp Malaya bắt đầu vào năm 1948 và kéo dài cho đến năm 1960, song đến năm 1957 thì Anh cảm thấy đủ tin tưởng để cấp độc lập cho Liên bang Malaya trong Thịnh vượng chung. Năm 1963, 11 bang của liên bang cùng với Singapore, Sarawak và Bắc Borneo hợp nhất thành Malaysia, tuy nhiên đến năm 1965 thì Singapore vốn có đa số cư dân là người Hoa bị trục xuất khỏi liên minh sau các xung đột giữa cư dân Mã Lai và Hoa.[176] Brunei là một lãnh thổ bảo hộ của Anh từ năm 1888, từ chối gia nhập liên minh[177] và duy trì tình trạng này cho đến khi độc lập vào năm 1984.

Khủng hoảng Suez và hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng Anh Anthony Eden quyết định xâm chiếm Ai Cập trong Khủng hoảng Suez, điều này kết thúc sự nghiệp chính trị của ông và biểu lộ điểm yếu của Anh với vị thế một thế lực đế quốc.

Năm 1951, Đảng Bảo thủ quay lại nắm quyền tại Anh, dưới sự lãnh đạo của Winston Churchill. Churchill và những người Bảo thủ cho rằng vị thế thế lực thế giới của Anh dựa trên sự hiện diện tiếp tục của đế quốc, với căn cứ tại Kênh đào Suez cho phép Anh duy trì vị thế ưu việt của mình tại Trung Đông bất chấp việc để mất Ấn Độ. Tuy nhiên, Churchill không thể lờ đi chính phủ cách mạng mới của Gamal Abdul Nasser tại Ai Cập từ năm 1952, và năm sau Anh chấp thuận rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái khỏi khu vực Kênh đào Suez và rằng Sudan sẽ được cấp quyền tự quyết vào năm 1955, với độc lập tiếp theo đó.[178]

Trong tháng 7 năm 1956, Nasser đơn phương quốc hữu hóa Kênh đào Suez. Phản ứng của thủ tướng Anh đương thời-Anthony Eden- là thông đồng với Pháp để sắp đặt một cuộc tấn công của Israel vào Ai Cập, điều này sẽ tạo cho Anh và Pháp một cớ để can thiệp quân sự và tái chiếm kênh đào.[179] Eden chọc giận Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower do ông không được thương nghị, và Eisenhower từ chối ủng hộ cuộc xâm chiếm.[180] Các lo ngại khác của Eisenhower là khả năng về một cuộc chiến rộng hơn với Liên Xô sau khi quốc gia này đe dọa can thiệp bên phía Ai Cập. Eisenhower áp dụng đòn bẩy tài chính bằng cách đe dọa bán dự trữ của Hoa Kỳ bằng bảng Anh và từ đó khiến đơn vị tiền tệ của Anh bị phá giá.[181] Mặc dù quân xâm chiếm đạt được thành công về quân sự trong mục tiêu của mình,[182] song can thiệp của Liên Hiệp Quốc và áp lực của Hoa Kỳ buộc Anh phải nhục nhã triệt thoái lực lượng của mình, và Eden từ chức.[183][184]

Khủng hoảng Suez thực sự bộc lộ công khai các hạn chế của Anh trên thế giới và xác nhận sự suy tàn của Anh trên vũ đài thế giới, biểu thị rằng từ đó về sau họ không còn có thể hành động mà không có ít nhất là sự đồng ý, nếu không phải ủng hộ hoàn toàn, của Hoa Kỳ.[185][186][187] Các sự kiện tại Suez làm tổn thương đến sự kiêu hãnh quốc gia của Anh, khiến một nghị viên miêu tả nó như "Waterloo của Anh"[188] và những người khác thì cho rằng quốc gia đã trở thành một "vệ tinh của Hoa Kỳ".[189] Margaret Thatcher sau đó miêu tả suy nghĩ bà tin rằng "hội chứng Suez" đã xảy ra trong chính trị Anh, từ đó Anh không phục hồi cho đến khi tái chiếm thành công quần đảo Falkland từ Argentina vào năm 1982.[190]

Khủng hoảng Suez khiến quyền lực của Anh tại Đông Đông bị suy yếu, song nó không sụp đổ.[191] Anh lại triển khai quân đội đến khu vực, can thiệp tại Oman (1957), Jordan (1958) và Kuwait (1961), song các trường hợp này có sự tán thành của Hoa Kỳ,[192] do chính sách đối ngoại của tân thủ tướng Harold Macmillan là duy trì liên kết vững chắc với Hoa Kỳ.[188] Anh duy trì sự hiện diện quân sự tại Trung Đông trong nhiều thập niên sau. Trong tháng 1 năm 1968, một vài tuần sau khi phá giá đồng Bảng, Thủ tướng Anh Harold Wilson và Bộ trưởng Quốc phòng Denis Healey tuyên bố rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái từ các căn cứ quân sự chủ yếu tại phía đông của Suez, vốn gồm các căn cứ tại Trung Đông, và chủ yếu là từ Malaysia và Singapore.[193] Anh triệt thoái khỏi Aden vào năm 1967, Bahrain vào năm 1971, và Maldives vào năm 1976.[194]

Gió đổi chiều[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình phi thuộc địa hóa của Anh tại châu Phi. Đến cuối thập niên 1960, ngoại trừ Rhodesia (sau là Zimbabwe) và lãnh thổ ủy thác của Nam Phi là Tây-Nam Phi (Namibia) thì tất cả đều giành được độc lập.

Macmillan đưa ra một phát biểu tại Cape Town, Nam Phi vào tháng 2 năm 1960, ông nói "gió đổi chiều thổi qua lục địa này."[195] Macmillan muốn tránh điều tương tự như chiến tranh thuộc địa mà Pháp chiến đấu tại Algeria, và quá trình phi thuộc địa hóa được tiến hành nhanh chóng trong nhiệm kỳ thủ tướng của ông.[196] Trong thập niên 1950, có ba thuộc địa là Sudan, Bờ Biển Vàng và Malaya giành được độc lập, con số trong thập niên 1960 gấp gần mười lần.[197]

Các thuộc địa còn lại của Anh tại châu Phi, ngoại trừ Nam Rhodesia tự quản, đều được cấp độc lập cho đến năm 1968. Anh triệt thoái khỏi các bộ phận miền nam và miền đông của châu Phi không phải là một quá trình hòa bình. Độc lập của Kenya đến sau một khởi nghĩa Mau Mau kéo dài tám năm. Tại Rhodesia, Tuyên ngôn độc lập đơn phương vào năm 1965 của cộng đồng thiểu số da trắng dẫn đến một cuộc nội chiến kéo dài cho đến Hiệp định Lancaster House vào năm 1979, theo đó chế định các điều khoản để công nhận độc lập vào năm 1980, với một quốc gia mới là Zimbabwe.[198]

Tại Địa Trung Hải, một chiến tranh du kích do những người Síp gốc Hy Lạp tiến hành kết thúc bằng một Síp độc lập vào năm 1960, Anh duy trì các căn cứ quân sự Akrotiri và Dhekelia. Các đảo MaltaGozo tại Địa Trung Hải được trao độc lập một cách hữu nghị từ Anh vào năm 1964, bất chấp ý tưởng nổi lên vào năm 1955 về việc hợp nhất với Anh.[199]

Hầu hết lãnh thổ của Anh tại Caribe giành được độc lập sau khi JamaicaTrinidad rút khỏi Liên bang Tây Ấn lần lượt vào năm 1961 và 1962. Liên bang Tây Ấn được thành lập vào năm 1958 trong một nỗ lực nhằm hợp nhất các thuộc địa của Anh tại Caribe dưới một chính phủ, song điều này sụp đổ sau khi liên bang mất hai thành viên lớn nhất.[200] Barbados giành được độc lập vào năm 1966 và các đảo Đông Caribe còn lại giành độc lập trong các thập niên 1970 và 1980,[200] song AnguillaQuần đảo Turks và Caicos lựa chọn trở lại quyền kiểm soát của Anh sau khi họ đã sẵn sàng bắt đầu con đường độc lập.[201] Quần đảo Virgin thuộc Anh,[202] Quần đảo CaymanMontserrat lựa chọn duy trì các quan hệ với Anh,[203] trong khi Guyana giành độc lập vào năm 1966. Thuộc địa cuối cùng của Anh trên đại lục châu Mỹ là Honduras thuộc Anh trở thành một thuộc địa tự quản vào năm 1964 và đổi tên thành Belize vào năm 1973, giành độc lập hoàn toàn vào năm 1981. Một tranh chấp với Guatemala về yêu sách với Belize được để lại mà chưa giải quyết.[204]

Các lãnh thổ của Anh tại Thái Bình Dương giành độc lập trong thập niên 1970, bắt đầu với Fiji vào năm 1970 và kết thúc với Vanuatu vào năm 1980. Độc lập của Vanuatu bị trì hoãn do xung đột chính trị giữa các cộng đồng Anh ngữ và Pháp ngữ, do quần đảo chịu sự quản trị chung của Anh và Pháp.[205]

Đế quốc kết thúc[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm hội nghị triển lãm Hồng Kông là nơi tổ chức lễ kỷ niệm chuyển giao chủ quyền đối với Hồng Kông từ Anh cho Trung Quốc vào năm 1997, đánh dấu tượng trưng cho "sự kết thúc của Đế quốc".

Đạo luật Quốc tịch Anh 1981 được thông qua, trong đó tái xác định các thuộc địa vương thất còn lại là "các lãnh thổ phụ thuộc Anh" (đổi tên thành Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh vào năm 2002)[206] có nghĩa là ngoài các đảo và tiền đồn nằm rải rác (và năm 1955 thu được đá không người tại Rockall tại Đại Tây Dương),[207] quá trình phi thuộc địa hóa vốn bắt đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai phần lớn đã hoàn thành. Năm 1982, quyết tâm của Anh trong bảo vệ các lãnh thổ hải ngoại còn lại được thử thách khi Argentina xâm chiếm quần đảo Falkland, dựa trên yêu sách có từ thời Đế quốc Tây Ban Nha.[208] Phản ứng quân sự thành công sau cùng của Anh để tái chiếm quần đảo được nhiều người nhận định là góp phần đảo nghịch xu hướng vị thế của Anh đi xuống trong vai trò một thế lực thế giới.[209] Trong cùng năm, chính phủ Canada đoạn tuyệt liên kết tư pháp cuối cùng của họ với Anh khi chuyển quyền với hiến pháp Canada khỏi Anh. Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Canada 1982, kết thúc sự cần thiết Anh tham gia vào thay đổi hiến pháp Canada.[210] Các đạo luật tương đương được thông qua cho ÚcNew Zealand vào năm 1986.[211]

Trong tháng 9 năm 1982, [Thủ tướng Margaret Thatcher đến Bắc Kinh để đàm phán với chính phủ Trung Quốc về Hồng Kông-lãnh thổ hải ngoại lớn và đông dân nhất cuối cùng của Anh.[212] Theo các điều khoản của Điều ước Nam Kinh 1842, đảo Hồng Kông được nhượng vĩnh viễn cho Anh, song đại đa số thuộc địa cấu thành từ Tân Giới- lãnh thổ mà Anh thu được theo một hợp đồng thuê 99 năm vào năm 1898, sẽ hết hạn vào năm 1997.[213][214] Thatcher ban đầu muốn giữ Hồng Kông và đề xuất về sự cai quản của Anh với chủ quyền của Trung Quốc, song Trung Quốc bác bỏ điều này.[215] Một thỏa thuận đạt được vào năm 1984—theo các điều khoản của Tuyên bố chung Trung-Anh, Hồng Kông sẽ trở thành một khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc, duy trì phương thức sinh hoạt trong ít nhất 50 năm.[216] Lễ bàn giao vào năm 1997 đối với nhiều người đánh dấu[217] "sự kết thúc của Đế quốc".[210][218]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Anh duy trì chủ quyền đối với 14 lãnh thổ bên ngoài Quần đảo Anh, chúng được đổi tên thành các lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh vào năm 2002.[219] Một số lãnh thổ không có cư dân ngoại trừ các nhân viên quân sự hoặc khoa học tạm thời; các lãnh thổ còn lại được tự quản tại mức độ khác nhau và dựa vào Anh về đối ngoại và phòng thủ. Chính phủ Anh tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ lãnh thổ hải ngoại nào muốn theo đuổi độc lập.[220] Chủ quyền của Anh đối với một vài lãnh thổ hải ngoại bị tranh chấp: Tây Ban Nha yêu sách với Gibraltar, Argentina yêu sách với quần đảo Falkland và Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich, và Mauritius cùng Seychelles yêu sách với Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh.[221] Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh chồng lấn với các yêu sách của Argentina và Chile, trong khi nhiều quốc gia không công nhận bất kỳ yêu sách lãnh thổ nào tại châu Nam Cực.[222]

Chơi cricket tại Ấn Độ. Các môn thể thao có nguồn gốc từ Anh tiếp tục được ủng hộ nhiệt tình tại các bộ phận khác nhau của cựu Đế quốc.

Hầu hết các thuộc địa và lãnh thổ bảo hộ cũ của Anh nằm trong số 53 quốc gia thành viên của Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội phi chính trị và tự nguyện của các thành viên bình đẳng, với tổng dân số khoảng 2,2 tỷ người.[223] 16 vương quốc Thịnh vượng chung tiếp tục chia sẻ nguyên thủ quốc gia chung là Nữ vương Elizabeth II. Các quốc gia này là các thực thể pháp luật riêng biệt và bình đẳng – Anh, Úc, Canada, New Zealand, Papua New Guinea, Antigua and Barbuda, Bahamas, Barbados, Belize, Grenada, Jamaica, Saint Kitts and Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Quần đảo SolomonTuvalu[224]

Trong nhiều thập niên, và trong một óố trường hợp là nhiều thế kỷ, sự cai trị và di cư của người Anh để lại dấu ấn tại các quốc gia độc lập phát sinh từ Đế quốc Anh. Đế quốc thiết lập việc sử dụng tiếng Anh tại các khu vực khắp thế giới. Ngày nay, đây là ngôn ngữ chủ yếu của đến 400 triệu người và được khoảng một tỷ rưỡi người nói như ngôn ngữ thứ nhất, thứ nhì hoặc ngoại ngữ.[225] Sự truyền bá của tiếng Anh từ nửa cuối của thế kỷ 20 là nhờ một phần vào ảnh hưởng văn hóa của Hoa Kỳ, bản thân quốc gia này hình thành từ các thuộc địa của Anh. Ngoại trừ tại châu Phi nơi gần như toàn bộ các cựu thuộc địa chọn hệ thống tổng thống chế, hệ thống nghị viện Anh đóng vai trò là khuôn mẫu cho chính phủ của nhiều cựu thuộc địa, và thông luật Anh đối với các hệ thống tư pháp.[226]

Ủy ban Tư pháp Xu mật viện vẫn đóng vai trò là tòa án tối cao về phúc thẩm của một vài cựu thuộc địa tại Caribe và Thái Bình Dương. Các nhà truyền giáo Tin Lành của Anh đi khắp thế giới trước các binh sĩ và công chức để truyền bá các nhóm đạo Anh giáo đến tất cả lục địa. Kiến trúc thuộc địa Anh, như trong các nhà thờ, ga xe lửa và tòa nhà chính phủ, có thể trông thấy được tại nhiều thành phố từng là bộ phận của Đế quốc Anh.[227]

Các môn thể thao cá nhân và đội ngũ phát triển tại Anh, đặc biệt là bóng đá, cricket, bóng bầu dục, quần vợt sân cỏ và golf—cũng được xuất khẩu.[228] Lựa chọn của Anh về hệ thống đo lường, hệ thống đế quốc, tiếp tục được sử dụng tại một số quốc gia theo các cách thức khác nhau. Quy tắc đi xe bên trái đường được duy trì tại phần lớn cựu đế quốc.[229]

Biên giới chính trị do người Anh vẽ không phải luôn phản ánh đồng nhất dân tộc hoặc tôn giáo, góp phần vào các xung đột tại các khu vực cựu thuộc địa. Đế quốc Anh cũng chịu trách nhiệm đối với sự di cư của các dân tộc. Hàng triệu người rời khỏi Quần đảo Anh, với các dân định cư sáng lập của Hoa Kỳ, Canada, Úc và New Zealand chủ yếu đến từ Anh và Ireland. Căng thẳng giữa dân định cư da trắng trong các quốc gia này với các cộng đồng thiểu số bản địa của họ, và giữa các cộng đồng thiểu số định cư da trắng và cộng đồng đa số bản địa tại Nam Phi và Zimbabwe. Những người định cư tại Ireland từ Anh để lại dấu ấn của họ bằng việc hình thành các cộng đồng dân tộc chủ nghĩa và liên minh chủ nghĩa tại Bắc Ireland. Hàng triệu người chuyển đi và từ các thuộc địa Anh, với số lượng lớn người Ấn Độ di cư đến các bộ phận khác của đế quốc, như Malaysia và Fiji, và người Hoa đến Malaysia, Singapore và Caribe.[230] Nhân khẩu tại Anh biến hóa sau Chiến tranh thế giới thứ hai do nhập cư đến Anh từ các cựu thuộc địa của mình.[231]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ferguson, Niall (2004). Empire, The rise and demise of the British world order and the lessons for global power. Basic Books. tr. ix. ISBN 0-465-02328-2. 
  2. ^ Maddison 2001, các trang. 98, 242.
  3. ^ Ferguson 2004, p. 15.
  4. ^ Niall Ferguson, The rise and demise of the British world order and the lessons for global power, trang 2.
  5. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 257
  6. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 224
  7. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 1
  8. ^ a ă Ferguson 2004, tr. 3.
  9. ^ Andrews 1985, tr. 45.
  10. ^ Ferguson 2004, tr. 4.
  11. ^ Canny, tr. 35.
  12. ^ Thomas, các trang 155–158
  13. ^ Ferguson 2004, tr. 7.
  14. ^ Canny, tr. 62.
  15. ^ Lloyd, các trang 4–8.
  16. ^ Canny, tr. 7.
  17. ^ Kenny, tr. 5.
  18. ^ Taylor, tr. 119,123.
  19. ^ Andrews, trang. 187.
  20. ^ Andrews, trang. 188.
  21. ^ Canny, trang. 63.
  22. ^ Canny, các trang. 63–64.
  23. ^ Canny, trang. 70.
  24. ^ Canny, trang. 34.
  25. ^ James, trang. 17.
  26. ^ Canny, trang. 71.
  27. ^ Canny, trang. 221.
  28. ^ Lloyd, các trang. 22–23.
  29. ^ Lloyd, trang. 32.
  30. ^ Lloyd, các trang. 33, 43.
  31. ^ Lloyd, các trang. 15–20.
  32. ^ Andrews, các trang. 316, 324–326.
  33. ^ Andrews, các trang. 20–22.
  34. ^ James, trang. 8.
  35. ^ Lloyd, trang. 40.
  36. ^ Ferguson 2004, các trang. 72–73.
  37. ^ a ă Buckner, trang. 25.
  38. ^ Ferguson 2004, trang. 62.
  39. ^ Canny, trang. 228.
  40. ^ Marshall, các trang. 440–64.
  41. ^ Magnusson, trang. 531.
  42. ^ Macaulay, trang. 509.
  43. ^ Pagden, Anthony (2003):Peoples and Empires: A Short History of European Migration, Exploration, and Conquest, from Greece to the Present, trang 118
  44. ^ Lloyd: Empire: the history of the British Empire, trang 13
  45. ^ a ă Ferguson 2004, trang. 19.
  46. ^ Canny, trang. 441.
  47. ^ Pagden, trang. 90.
  48. ^ a ă Shennan, các trang. 11–17.
  49. ^ James, trang. 58.
  50. ^ Smith, p. 17.
  51. ^ Bandyopādhyāẏa, pp. 49–52
  52. ^ Smith, pp. 18–19.
  53. ^ a ă Pagden, p. 91.
  54. ^ Ferguson 2004, p. 84.
  55. ^ Marshall, pp. 312–23.
  56. ^ Canny, p. 92.
  57. ^ James, p. 120.
  58. ^ James, p. 119.
  59. ^ Marshall, p. 585.
  60. ^ Zolberg, p. 496.
  61. ^ Games, pp. 46–48.
  62. ^ Kelley & Trebilcock, p. 43.
  63. ^ Smith, p. 28.
  64. ^ Latimer, pp. 8, 30–34, 389–92.
  65. ^ Marshall, pp. 388.
  66. ^ Smith, tr. 20.
  67. ^ Smith, các trang. 20–21.
  68. ^ Mulligan & Hill, các trang. 20–23.
  69. ^ Brittain and the Dominions, t. 159.
  70. ^ James, p. 142.
  71. ^ Britain and the Dominions, p. 159.
  72. ^ Fieldhouse, các trang. 145–149
  73. ^ Cervero, Robert B. (1998). The Transit Metropolis: A Global Inquiry. Chicago: Island Press. tr. 320. ISBN 1-55963-591-6. 
  74. ^ Statesmen's Year Book 1889
  75. ^ Smith, tr. 45.
  76. ^ “Waitangi Day”. History Group, New Zealand Ministry for Culture and Heritage. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  77. ^ Porter, tr. 579.
  78. ^ Mein Smith, tr. 49.
  79. ^ James, p. 152.
  80. ^ Lloyd, các trang. 115–118.
  81. ^ a ă â b James, tr. 165.
  82. ^ Porter, tr. 14.
  83. ^ Hinks, tr. 129.
  84. ^ Hyam, tr. 1.
  85. ^ Smith, tr. 71.
  86. ^ Parsons, tr. 3.
  87. ^ a ă Porter, tr. 401.
  88. ^ Porter, tr. 332.
  89. ^ Porter, tr. 8.
  90. ^ Marshall, các trang. 156–57.
  91. ^ Dalziel, các trang. 88–91.
  92. ^ Martin, tr. 146–148.
  93. ^ Janin, tr. 28.
  94. ^ Keay, p. 393
  95. ^ Parsons, pp. 44–46.
  96. ^ Smith, pp. 50–57.
  97. ^ Brown, p. 5.
  98. ^ Marshall, pp. 133–34.
  99. ^ Hopkirk, pp. 1–12.
  100. ^ James, p. 181.
  101. ^ Royle, preface.
  102. ^ Williams, Beryl J. (1966). “The Strategic Background to the Anglo-Russian Entente of August 1907”. The Historical Journal 9 (3): 360–373. doi:10.1017/S0018246X00026698. JSTOR 2637986. 
  103. ^ Hodge, p. 47.
  104. ^ Smith, p. 85.
  105. ^ Smith, pp. 85–86.
  106. ^ Lloyd, pp. 168, 186, 243.
  107. ^ Lloyd, p. 255.
  108. ^ Tilby, p. 256.
  109. ^ Roger 1986, p. 718.
  110. ^ Ferguson 2004, pp. 230–33.
  111. ^ James, p. 274.
  112. ^ “Treaties”. Egypt Ministry of Foreign Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. 
  113. ^ Herbst, pp. 71–72.
  114. ^ Vandervort, pp. 169–183.
  115. ^ James, p. 298.
  116. ^ Lloyd, p. 215.
  117. ^ Smith, pp. 28–29.
  118. ^ Porter, p. 187
  119. ^ Smith, p. 30.
  120. ^ a ă Rhodes, Wanna & Weller, pp. 5–15.
  121. ^ Lloyd, p. 213
  122. ^ a ă James, p. 315.
  123. ^ Smith, p. 92.
  124. ^ O'Brien, p. 1.
  125. ^ Brown, p. 667.
  126. ^ Lloyd, p. 275.
  127. ^ a ă Brown, pp. 494–495.
  128. ^ Marshall, pp. 78–79.
  129. ^ Lloyd, p. 277.
  130. ^ Lloyd, p. 278.
  131. ^ Ferguson 2004, p. 315.
  132. ^ Fox, pp. 23–29, 35, 60.
  133. ^ Goldstein, p. 4.
  134. ^ Louis, p. 302.
  135. ^ Louis, p. 294.
  136. ^ Louis, p. 303.
  137. ^ Lee 1996, p. 305.
  138. ^ Brown, p. 143.
  139. ^ Smith, p. 95.
  140. ^ Magee, p. 108.
  141. ^ Ferguson 2004, p. 330.
  142. ^ a ă James, p. 416.
  143. ^ Low, D.A. (tháng 2 năm 1966). “The Government of India and the First Non-Cooperation Movement-—1920–1922”. The Journal of Asian Studies 25 (2): 241–259. doi:10.2307/2051326. 
  144. ^ Smith, p. 104.
  145. ^ Brown, p. 292.
  146. ^ Smith, p. 101.
  147. ^ Louis, p. 271.
  148. ^ McIntyre, p. 187.
  149. ^ Brown, p. 68.
  150. ^ McIntyre, p. 186.
  151. ^ Brown, p. 69.
  152. ^ Turpin & Tomkins, p. 48.
  153. ^ Lloyd, p. 300.
  154. ^ Kenny, p. 21.
  155. ^ Lloyd, pp. 313–14.
  156. ^ Gilbert, p. 234.
  157. ^ a ă Lloyd, p. 316.
  158. ^ James, p. 513.
  159. ^ Gilbert, p. 244.
  160. ^ Louis, p. 337.
  161. ^ Brown, p. 319.
  162. ^ James, p. 460.
  163. ^ Abernethy, p. 146.
  164. ^ Brown, p. 331.
  165. ^ “What's a little debt between friends?”. BBC News. 10 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2008. 
  166. ^ Levine, p. 193.
  167. ^ Abernethy, p. 148.
  168. ^ Brown, p. 330.
  169. ^ Lloyd, p. 322.
  170. ^ Smith, p. 67.
  171. ^ Lloyd, p. 325.
  172. ^ McIntyre, pp. 355–356.
  173. ^ Lloyd, p. 327.
  174. ^ Lloyd, p. 328.
  175. ^ a ă Lloyd, p. 335.
  176. ^ Lloyd, p. 364.
  177. ^ Lloyd, p. 396.
  178. ^ Brown, pp. 339–40.
  179. ^ James, p. 581.
  180. ^ Ferguson 2004, p. 355.
  181. ^ Ferguson 2004, p. 356.
  182. ^ James, p. 583.
  183. ^ Combs, pp. 161–163.
  184. ^ “Suez Crisis: Key players”. BBC News. 21 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2010. 
  185. ^ Brown, p. 342.
  186. ^ Smith, p. 105.
  187. ^ Burk, p. 602.
  188. ^ a ă Brown, p. 343.
  189. ^ James, p. 585.
  190. ^ Thatcher.
  191. ^ Smith, p. 106.
  192. ^ James, p. 586.
  193. ^ Pham 2010
  194. ^ Lloyd, pp. 370–371.
  195. ^ James, p. 616.
  196. ^ Louis, p. 46.
  197. ^ Lloyd, pp. 427–433.
  198. ^ James, pp. 618–621.
  199. ^ Springhall, pp. 100–102.
  200. ^ a ă Knight & Palmer, pp. 14–15.
  201. ^ Clegg, p. 128.
  202. ^ Lloyd, p. 428.
  203. ^ James, p. 622.
  204. ^ Lloyd, pp. 401, 427–429.
  205. ^ Macdonald, pp. 171–191.
  206. ^ “British Overseas Territories Act 2002”. http://www.legislation.gov.uk. 
  207. ^ “1955: Britain claims Rockall”. BBC News. 21 tháng 9 năm 1955. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  208. ^ James, pp. 624–625.
  209. ^ James, p. 629.
  210. ^ a ă Brown, p. 594.
  211. ^ Brown, p. 689.
  212. ^ Brendon, p. 654.
  213. ^ Joseph, p. 355.
  214. ^ Rothermund, p. 100.
  215. ^ Brendon, pp. 654–55.
  216. ^ Brendon, p. 656.
  217. ^ Brendon, p. 660.
  218. ^ “BBC – History – Britain, the Commonwealth and the End of Empire”. BBC News. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  219. ^ House of Commons Foreign Affairs Committee Overseas Territories Report, pp. 145–147
  220. ^ House of Commons Foreign Affairs Committee Overseas Territories Report, pp. 146,153
  221. ^ “British Indian Ocean Territory”. The World Factbook. CIA. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  222. ^ House of Commons Foreign Affairs Committee Overseas Territories Report, p. 136
  223. ^ The Commonwealth - About Us; Online September 2014
  224. ^ “Head of the Commonwealth”. Commonwealth Secretariat. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  225. ^ Hogg, p. 424 chapter 9 English Worldwide by David Crystal: "approximately one in four of the worlds population are capable of communicating to a useful level in English."
  226. ^ Ferguson 2004, p. 307.
  227. ^ Marshall, pp. 238–40.
  228. ^ Torkildsen, p. 347.
  229. ^ Parsons, p. 1.
  230. ^ Marshall, p. 286.
  231. ^ Dalziel, p. 135.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]