Đế quốc Nga
- Nội dung bài này về Nga trước đây. Để biết thêm nội dung khác, xem Nga (định hướng)
Đế quốc Nga (tiếng Nga: Российская империя, Rossiyskaya Imperiya) là một nhà nước tồn tại từ năm 1721 cho đến khi tuyên bố thành một nước cộng hòa tháng 8 năm 1917.
Lịch sử [sửa]
Đế quốc Nga thành lập từ Công quốc thời Trung Cổ Moskva, được các hậu duệ của Ivan IV của Nga với danh hiệu là các Sa hoàng (Tsar - bắt nguồn từ Caesar). Mãi đến tận thế kỷ 17, Nga vẫn là một quốc gia bán khai, lạc hậu trong khi các quốc gia châu Âu khác đã bước sang thời đại Phục hưng. Dù đế quốc này chỉ được Sa hoàng Pyotr I Đại đế chính thức công bố vào năm 1721, nhưng đế quốc này thực sự được khai sinh khi ông trở thành Sa hoàng vào năm 1682. Ông cảm thấy phẫn nộ khi nhìn thấy sự lạc hậu của vương quốc của mình và do đó, trước khi đăng quang, ông đã đi khắp châu Âu, làm nhiều công việc khác nhau và đã học được nhiều kinh nghiệm cần thiết để mang nước Nga phát triển thành một đế quốc cường thịnh khi đó. Tiếp theo đó là cuộc Đại chiến Bắc Âu từ năm 1700 đến năm 1720, Nga hoàng Pyotr I Đại Đế - một nhà chiến lược nổi tiếng trong lịch sử[2] - đã chiếm được các vùng trọng yếu duyên hải và thành lập một thành phố mà sau đó đã trở thành kinh đô của đế quốc này trong 200 năm, đó là Sankt-Peterburg. Vào năm 1709, trong trận Poltava, ông đánh bại Đế quốc Thụy Điển - quốc gia hùng mạnh nhất của Bắc Âu, buộc vua Thụy Điển là Karl XII phải chạy sang Đế quốc Ottoman.[3]
Với chiến thắng vang dội trong cuộc Đại chiến Bắc Âu, vua Pyotr I Đại Đế đã thiết lập uy quyền Bá chủ của nước Nga ở vùng Bắc Âu, và ông trở thành vị Hoàng đế hùng mạnh nhất, mang lại nhiều ảnh hưởng nhất ở khu vực này.[4] Trong cuộc chiến tranh Kế vị Ba Lan, hai đế quốc Nga và Áo đề cử Tuyển hầu tước xứ Sachsen là August III (con trai của cố vương Ba Lan) làm vua của Ba Lan, trong khi các vương quốc Pháp, Tây Ban Nha và Sardinia đề cử Stanislas Leszczynaki - cha vợ của vua Pháp Louis XV - làm vua của Ba Lan. Đế quốc Nga đánh nước Pháp lần đầu tiên trong cuộc vây hãm Danzig (1734), với chiến thắng của Quân đội Nga.[5] Kết thúc cuộc chiến tranh này, nước Nga chiến thắng và gia tăng ảnh hưởng của mình đối với Liên bang Ba Lan - Litva.[6]
Từ năm 1756 cho đến năm 1762, Đế quốc Nga tham gia liên quân chống Phổ cùng với các nước Áo, Sachsen, Pháp và Thụy Điển, nhằm tiến đánh và chia cắt Vương quốc Phổ trong cuộc chiến tranh Bảy năm. Cho đến năm 1761, liên quân đông đảo vẫn bị vị vua của Phổ là thiên tài quân sự Friedrich II Đại Đế chặn đứng, nên nước Phổ vẫn sinh tồn. Và, cuộc chiến tranh Nga-Phổ kết thúc vì liên quân hoàn toàn kiệt quệ, và Nga hoàng Pyotr III - do quá ngưỡng mộ vua Friedrich II Đại Đế, ký kết hòa ước với Vương quốc Phổ, và còn phái một đạo quân tới giúp ông (1762). Với cuộc chiến tranh Bảy năm, nước Nga đã không chiếm được một tấc đất nào của nước Phổ, nhưng xua tan ảnh hưởng của Pháp ra khỏi Liên bang Ba Lan - Litva, và Thụy Điển.[7] Đến cuối thế kỷ 19, diện tích của đế quốc này là 22.400.000 km² (khoảng 1/6 diện tích đất của Trái Đất). Đối thủ duy nhất về diện tích rộng lớn này vào thời đó là Đế quốc Anh. Tuy nhiên, vào thời này, đa số dân số sống ở phần nước Nga thuộc châu Âu. Hơn 100 dân tộc khác nhau sống trong Đế quốc Nga, với dân tộc chính là người Nga chiếm 45% dân số.
Năm 1914, Đế quốc Nga bao gồm 81 tỉnh (guberniya) và 20 vùng (oblast). Các nước chư hầu và lãnh thổ bảo hộ của Đế quốc Nga bao gồm tiểu Hồi quốc Bukhara, hãn quốc Khiva và sau năm 1914 còn có Tuva (Uriankhai).
Ngoài lãnh thổ của Nga hiện nay, trước năm 1917, Đế quốc Nga bao gồm phần lớn lãnh thổ của các quốc gia sau: Ukraina, (Dnepr Ukraina và Krym), Belarus, Moldova (Bessarabia), Phần Lan (Đại công quốc Phần Lan), Armenia, Azerbaijan, Gruzia, các quốc gia Trung Á: Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan (Russkii Turkestan), phần lớn lãnh thổ của Litva, Estonia và Latvia (các tỉnh Baltic), cũng như một phần đáng kể của Ba Lan (Vương quốc Ba Lan) và tỉnh Ardahan, Artvin, tỉnh Iğdır, và tỉnh Kars từ Thổ Nhĩ Kỳ. Trong thời kỳ từ năm 1742 tới năm 1867, Đế quốc Nga tuyên bố Alaska là thuộc địa của mình.
Đế quốc Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối và cha truyền con nối do Hoàng đế chuyên chính (Sa hoàng) của họ Romanov đứng đầu. Chính thống giáo Nga là tôn giáo chính thức của đế quốc và Sa hoàng kiểm soát thông qua Hội đồng Thánh giáo. Các thần dân của đế quốc Nga được phân biệt theo sosloviye, hay đẳng cấp xã hội (giai cấp) như "dvoryanstvo" (quý tộc), tăng lữ, thương nhân, cozak và nông dân. Các dân tộc bản địa ở Siberi và Trung Á được đăng ký chính thức như là một hạng gọi là "inorodtsy" (không-Slav, nghĩa văn chương là: "người có nguồn gốc khác").
Sau khi lật đổ chế độ quân chủ trong cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1917, Nga được chính phủ lâm thời tuyên bố là một nước cộng hòa, vị Sa hoàng Nga cuối cùng, Nikolai II phải thoái vị.
Thời kỳ này, với sự gối lên các thời kỳ trước và sau nó, được đề cập tới trong các bài sau.
| Lịch sử Nga | |
|---|---|
Bài này là một phần của loạt bài |
|
| Volga Bulgaria (7–13) | |
| Khazar (7–10) | |
| Khả hãn quốc Rus (8–9) | |
| Nga Kiev (9–12) | |
| Vladimir-Suzdal (12–14) | |
| Cộng hoà Novgorod (12–15) | |
| Mông Cổ xâm lược (1220–1240) | |
| Ách thống trị Tatar (13–15) | |
| Đại công quốc Moskva (1340–1547) | |
| Nước Nga Sa hoàng (1547–1721) | |
| Đế quốc Nga (1721–1917) | |
| Chính phủ Lâm thời / Cộng hoà Nga (1917) | |
| Nga Xô viết / Liên xô (1917–1991) | |
| Liên bang Nga (1991-hiện tại) | |
|
Chủ đề Nga |
Chú thích [sửa]
- ^ Russia, 1914-1917
- ^ Savo Bojicic, Niko: An Amazing Autobiography by an Amazing Dog, trang 152
- ^ Chris Oxlade, The Top Ten Battles That Changed the World, trang 12
- ^ Aleksandr Kamenskiĭ, David Mark Griffiths, The Russian empire in the eighteenth century: searching for a place in the world, trang 92
- ^ The History of Poland
- ^ Harry J. Carroll, The Development of civilization: a documentary history of politics, society, and thought, Tập 2, trang 48
- ^ Stacy Bergstrom Haldi, Why wars widen: a theory of predation and balancing, các trang 31, 32-38.
|
|
|||||