Đế quốc Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nội dung bài này về Nga trước đây. Để biết thêm nội dung khác, xem Nga (định hướng)
Россійская Имперія (Nga-Cyrl)
Rossiyskaya Imperiya (chuyển tự)

Đế quốc Nga
Coat of Arms of Moscow.png
1721–1917
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Đại quốc huy của Đế quốc Nga
Khẩu hiệu
Съ нами Богъ!
Sʺ nami Bogʺ!
(Chúa bên ta!)
Quốc ca
"Боже, Царя храни!"
tạm dịch: Chúa phù hộ Sa hoàng
Vị trí của Nga
Màu xanh đậm: thuộc đế quốc Nga
Màu xanh nhạt:Ảnh hưởng đến Trung Quốc, Ba Tư và Danubia
Thủ đô Sankt-Peterburg
Ngôn ngữ Tiếng Nga
Tôn giáo Chính thống giáo Nga
Chính thể Quân chủ chuyên chế
Hoàng đế
 - 1721–1725 Pyotr Đại đế
 - 1894–1917 Nikolai II
Lập pháp Duma Quốc gia
Lịch sử
 - Pyotr I lên ngôi 7 tháng 5 1682 lịch mới,
27 tháng 4 1682 lịch cũ²
 - Công bố thành lập đế quốc 22 tháng 10 1721 lịch mới,
11 tháng 10 1721 lịch cũ
 - Khởi nghĩa tháng chạp 26 tháng 12 1825 lịch mới,
14 tháng 12 1825 lịch cũ
 - Bãi bỏ chế độ nông nô 3 tháng 3, 1861 lịch mới,
19 tháng 2 1861 lịch cũ
 - Cách mạng năm 1905 tháng 1-tháng 12 năm 1905
 - Hiến pháp 23 tháng 4 1906
 - Cách mạng tháng 2 15 tháng 3 1917 lịch mới,
2 tháng 3 1917 lịch cũ
 - Cách mạng tháng 10 7 tháng 11 1917 lịch mới,
25 tháng 10 1917 lịch cũ
Diện tích
 - 1914 21.799.825 km²; (8.416.959 mi²)
Dân số
 - 1914 ước tính 181.537.800 
     Mật độ 8,3 /km²  (21,6 /mi²)
Tiền tệ Rúp
Tiền nhiệm
Kế tục
Coat of Arms of Moscow.png Nước Nga Sa hoàng
Cộng hòa Nga Flag of Russia.svg
Liên bang Ngoại Kavkaz Flag of the Transcaucasian Federation.svg
Cộng hòa Nhân dân Ukraina Flag of Ukraine.svg
Cộng hòa Nhân dân Belarus Flag of Belarus (1918, 1991-1995).svg
Ober Ost Flag of the German Empire.svg
Vương quốc Ba Lan (1916–1918) Flag of Poland.svg
Cộng hòa Dân chủ Moldavia Flag of the Moldavian Democratic Republic.svg
Cộng hòa Nhân dân Kuban Flag of Kuban People's Republic.svg
Cộng hòa miền núi Bắc Kavkaz Flag of the Mountainous Republic of the Northern Caucasus.svg
Vương quốc Phần Lan (1918) Flag of Finland 1918 (state).svg
Quốc gia Idel-Ural Flag of Idel-Ural State.svg
Khu tự trị Alash Flag of the Alash Autonomy.svg
1.Cờ từ năm 1914—1917[1].
2. Nga tiếp tục sử dụng Lịch Julian cho đến sau khi đế quốc sụp đổ; xem Ngày trong lịch cũ và lịch mới.

Đế quốc Nga (tiếng Nga: Российская империя, Rossiyskaya Imperiya) là một chính thể tồn tại từ năm 1721 cho đến khi tuyên bố thành một nước cộng hòa vào tháng 8 năm 1917.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Nga thành lập từ Công quốc thời Trung Cổ Moskva, được các hậu duệ của Ivan IV của Nga với danh hiệu là các Sa hoàng (Tsar - bắt nguồn từ Caesar). Mãi đến tận thế kỷ 17, Nga vẫn là một quốc gia bán khai, lạc hậu trong khi các quốc gia châu Âu khác đã bước sang thời đại Phục hưng. Dù đế quốc này chỉ được Sa hoàng Pyotr I Đại đế chính thức công bố vào năm 1721, nhưng đế quốc này thực sự được khai sinh khi ông trở thành Sa hoàng vào năm 1682. Ông cảm thấy phẫn nộ khi nhìn thấy sự lạc hậu của vương quốc của mình và do đó, trước khi đăng quang, ông đã đi khắp châu Âu, làm nhiều công việc khác nhau và đã học được nhiều kinh nghiệm cần thiết để mang nước Nga phát triển thành một đế quốc cường thịnh khi đó. Tiếp theo đó là cuộc Đại chiến Bắc Âu từ năm 1700 đến năm 1721, Pyotr Đại đế đã chiếm được các vùng trọng yếu duyên hải và thành lập một thành phố mà sau đó đã trở thành kinh đô của đế quốc này trong 200 năm, đó là Sankt-Peterburg. Trong trận Poltava năm 1709, quân đội Nga do Pyotr chỉ huy giành một thắng lợi quyết định trước các lực lượng Thụy Điển - quốc gia hùng mạnh nhất của Bắc Âu, buộc phần lớn quân đội Thụy Điển phải đầu hàng. Chiến thắng Poltava đánh dấu sự trỗi dậy của Nga như một cường quốc. Sau trận đánh, các vua chúa nước ngoài trở nên nể sợ Nga và chủ trương mở rộng quan hệ với Nga thông qua các hoạt động ngoại giao và hôn nhân triều đại.[2][3]

Hòa ước Nystad vào năm 1721 đã chấm dứt cuộc Đại chiến Bắc Âu. Để kỷ niệm hòa ước này, Pyotr I xưng Hoàng đế và từ đây Nga chính thức trở thành một đế quốc. Tiếp theo đó, Pyotr I khai chiến với Ba Tư trong các năm 17221723, và cuộc chiến đã mang lại cho Nga quyền kiểm soát bờ tây và nam biển Caspi. Tuy nhiên, bệnh dịch gây nhiều thiệt hại cho các lực lượng Nga đóng tại Ba Tư, và họ bị buộc phải rút lui khỏi đây một thập kỷ sau đó.[3]

Vào thập niên 1730, nước Nga tham gia Chiến tranh Kế vị Ba Lan. Cuộc chiến khởi nguồn từ việc Nga và Áo đề cử Tuyển hầu tước August III của Sachsen, con trai của cố vương Ba Lan, làm vua Ba Lan, trong khi Pháp, Tây Ban NhaSardigna lại đề cử Stanislas Leszczynaki - cha vợ của vua Pháp Louis XV. Triều đình Anna huy động binh mã tấn công vào lãnh thổ Ba Lan và tiến hành cuộc vây hãm Gdańsk (1734). Sau những nỗ lực đột vây thất bại của quân Pháp và Ba Lan, Leszczynaki bị buộc phải trốn chạy sang Pháp. Kể từ đây, Ba Lan trở thành một quốc gia đệm nơi quân đội Nga được can dự tùy ý. Pháp và Áo tiếp tục đánh nhau tại ĐứcÝ, và một đạo quân Nga được đưa sang phía tây để hỗ trợ Áo nhưng không có hoạt động quân sự nào. Đối với Nga, cuộc chiến đã kết thúc mỹ mãn.[4][5]

Từ năm 1756 cho đến năm 1762, Nga liên kết với Áo, Pháp và Thụy Điển đánh nhau với Phổ trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Các lực lượng Nga tấn công Đông Phổ và đánh bại một đạo quân Phổ trong trận Gross-Jägersdorf vào tháng 8 năm 1757. Đầu năm 1758, Nga chiếm được toàn bộ Đông Phổ, mặc dù một cuộc tấn công của Nga vào Brandenburg bị vua Phổ Friedrich Đại đế đẩy lui trong trận Zorndorf đẫm máu. Quân Nga cũng đánh thắng quân Phổ tại PalzigKunersdorf vào năm 1759. Tuy nhiên, những thắng lợi quân sự của Nga không đủ để buộc Phổ phải cầu hòa, một phần là do cứ sau mỗi chiến dịch quân đội Nga buộc phải rút về nghỉ đông ở Đông Phổ chứ không thể tiến sâu vào bản thổ Phổ. Cái chết của Nữ hoàng Elizaveta vào năm 1762 đã chấm dứt sự tham chiến trực tiếp của Nga, khi mà người kế vị bà là Pyotr III, một người ngưỡng mộ Friedrich Đại đế, giao trả mọi lãnh thổ bị Nga chiếm cho Phổ. Sau khi tiến hành cuộc đảo chính cung đình tháng 7 năm 1762, Ekaterina II lên ngôi Nữ hoàng Nga. Mỏi mệt với chiến tranh, Ekaterina kết thúc hoàn toàn sự tham gia của Nga trong cuộc chiến. Mặc dù Chiến tranh Bảy năm không mở rộng lãnh thổ cho Nga, Nga đã gạt được ảnh hưởng của Pháp khỏi Ba Lan và Thụy Điển, đồng thời khẳng định vị thế của Nga như một cường quốc hàng đầu của châu Âu.[6][7][8][8]

Đế quốc Nga năm 1914

Đến cuối thế kỷ 19, diện tích của đế quốc này là 22.400.000 km² (khoảng 1/6 diện tích đất của Trái Đất). Đối thủ duy nhất về diện tích rộng lớn này vào thời đó là Đế quốc Anh. Tuy nhiên, vào thời này, đa số dân số sống ở phần nước Nga thuộc châu Âu. Hơn 100 dân tộc khác nhau sống trong Đế quốc Nga, với dân tộc chính là người Nga chiếm 45% dân số. Năm 1914, Đế quốc Nga bao gồm 81 tỉnh (guberniya) và 20 vùng (oblast). Các nước chư hầulãnh thổ bảo hộ của Đế quốc Nga bao gồm tiểu Hồi quốc Bukhara, hãn quốc Khiva và sau năm 1914 còn có Tuva (Uriankhai).

Quân Nga xâm lược Khiva, Uzbekistan, Trung Á năm 1871
Quân Nga bị quân du mục Khiva đánh bại

Ngoài lãnh thổ của Nga hiện nay, trước năm 1917, Đế quốc Nga bao gồm phần lớn lãnh thổ của các quốc gia sau: Ukraina, (Dnepr UkrainaKrym), Belarus, Moldova (Bessarabia), Phần Lan (Đại công quốc Phần Lan), Armenia, Azerbaijan, Gruzia, các quốc gia Trung Á: Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, TurkmenistanUzbekistan (Russkii Turkestan), phần lớn lãnh thổ của Litva, EstoniaLatvia (các tỉnh Baltic), cũng như một phần đáng kể của Ba Lan (Vương quốc Ba Lan) và tỉnh Ardahan, Artvin, tỉnh Iğdır, và tỉnh Kars từ Thổ Nhĩ Kỳ. Trong thời kỳ từ năm 1742 tới năm 1867, Đế quốc Nga tuyên bố Alaska là thuộc địa của mình.

Đế quốc Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối và cha truyền con nối do Hoàng đế chuyên chính (Sa hoàng) của họ Romanov đứng đầu. Chính thống giáo Nga là tôn giáo chính thức của đế quốc và Sa hoàng kiểm soát thông qua Hội đồng Thánh giáo. Các thần dân của đế quốc Nga được phân biệt theo sosloviye, hay đẳng cấp xã hội (giai cấp) như "dvoryanstvo" (quý tộc), tăng lữ, thương nhân, cozaknông dân. Các dân tộc bản địa ở Siberi và Trung Á được đăng ký chính thức như là một hạng gọi là "inorodtsy" (không-Slav, nghĩa văn chương là: "người có nguồn gốc khác").

Sau khi lật đổ chế độ quân chủ trong cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1917, Nga được chính phủ lâm thời tuyên bố là một nước cộng hòa, vị Sa hoàng Nga cuối cùng, Nikolai II phải thoái vị.

Thời kỳ này, với sự gối lên các thời kỳ trước và sau nó, được đề cập tới trong các bài sau.

Một phần của loạt bài về
Lịch sử Nga
Coat of Arms of Russia
Volga Bulgaria (7–13)
Khazar (7–10)
Khả hãn quốc Rus (8–9)
Nga Kiev (9–12)
Vladimir-Suzdal (12–14)
Cộng hoà Novgorod (12–15)
Mông Cổ xâm lược (1220–1240)
Ách thống trị Tatar (13–15)
Đại công quốc Moskva (1340–1547)
Nước Nga Sa hoàng (1547–1721)
Đế quốc Nga (1721–1917)
Chính phủ Lâm thời / Cộng hoà Nga (1917)
Nga Xô viết / Liên xô (1917–1991)
Liên bang Nga (1991-hiện tại)
Portal icon

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Russia tại Wikimedia Commons

  1. ^ Russia, 1914-1917
  2. ^ Chris Oxlade, The Top Ten Battles That Changed the World, trang 12
  3. ^ a ă Walter Moss, A History of Russia: To 1917, các trang 233-234.
  4. ^ Harry J. Carroll, The Development of civilization: a documentary history of politics, society, and thought, Tập 2, trang 48
  5. ^ David R. Stone, A Military History of Russia: From Ivan the Terrible to the War in Chechnya, trang 64
  6. ^ Stacy Bergstrom Haldi, Why wars widen: a theory of predation and balancing, các trang 31, 32-38.
  7. ^ Angus Konstam, Russian Army of the Seven Years War (1), các trang 13-15.
  8. ^ a ă H. M. Scott, The Emergence of the Eastern Powers, 1756-1775, trang 43