Định tuổi bằng đồng vị phóng xạ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Định tuổi bằng đồng vị phóng xạ là một kỹ thuật xác định tuổi của vật liệu, thường dựa trên sự sánh giữa lượng đồng vị phóng xạ còn lại trong mẫu thử và các sản phẩm phân rã từ các đồng vị này, hay còn gọi là tốc độ phân rã.[1] Đây là nguồn thông tin quan trọng trong việc định tuổi chính xác các đá vá các yếu tố địa chất khác bao gồm cả tuổi của Trái Đất, và có thể được sử dụng để định tuổi các vật liệu tự nhiên và nhân tạo. Cùng với các nguyên tắc của địa tầng học, các phương pháp định tuổi bằng phóng xạ được sử dụng để thiết lập niên đại địa chất.[2] Các kỹ thuật được biết đến nhiều nhất như định tuổi bằng đồng vị cacbon, định tuổi bằng kali - argonđịnh tuổi bằng urani - chì. Bên cạnh việc thiết lập niên đại địa chất, nó còn cung cấp thông tin về tuổi của hóa thạch và suy ra sự thay đổi tốc độ tiến hóa. Định tuổi bằng đồng vị phóng xạ cũng được sử dụng để xác định tuổi của các vật liệu khảo cổ bao gồm cả các đồ tạo tác cổ.

Các phương pháp định tuổi khác nhau cho giá trị khác nhau có độ chính xác khác nhau tùy thuộc vào loại vật liệu được đo đạc.

Các nguyên tắc cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Phân rã phóng xạ[sửa | sửa mã nguồn]

Ví dụ về chỗi phân rã phóng xạ từ chì-212 (212Pb) thành chì-208 (208Pb). Các đồng vị phóng xạ mẹ phân rã một cách tự nhiên thành các đồng vị phóng xạ con (sản phẩm phân rã phóng xạ) được tạo thành bởi phân rã α hoặc phân rã β. Sản phẩm phân rã cuối cùng, chì-208 (208Pb), là một đồng vị ổn định và không có khả năng phân rã phóng xạ tự nhiên.

Tất cả các vật chất thông thường được cấu tạo bởi sự liên kết của các nguyên tố hóa học, mỗi nguyên tố có một số nguyên tử đặc trưng cho số proton trong hạt nhân nguyên tử. Thêm vào đó, các nguyên tố có thể tồn tại ở một vài dạng đồng vị, mỗi đồng vị khác nhau về số lượng neutron trong hạt nhân. Ngoài các đồng vị thường các nguyên tố còn có các đồng vị phóng xạ. Các đồng vị phóng xạ vốn dĩ không ổn định. Do đó, nguyên tử của các đồng vị phóng xạ này sẽ biến đổi một cách liên tục thành một đồng vị phóng xạ khác. Sự biến đổi này có thể diễn ra với nhiều các khác nhau như phân rã phóng xạ, hoặc là phát ra các hạt (thường là các điện tử (phân rã beta), positron hoặc hạt alpha) hoặc bằng sự phân hạch tự nhiên, và hấp thu điện tử.

Các điều kiện đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ hệ thống[sửa | sửa mã nguồn]

Phương trình xác định tuổi[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương pháp định tuổi hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp urani-chì[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp kali-argon[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp Rubidi-stronti[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp Urani-thori[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp đồng vị cacbon[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp vết phân hạch[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp đồng vị clo 36[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp kích thích phát quang[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương pháp khác[sửa | sửa mã nguồn]

Định tuổi với hạt nhân thời gian sống ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ International Union of Pure and Applied Chemistry. "radioactive dating". Toàn văn bản Giản Lược Thuật Ngữ Hoá Học.
  2. ^ McRae, A. 1998. Radiometric Dating and the Geological Time Scale: Circular Reasoning or Reliable Tools? Radiometric Dating and the Geological Time Scale TalkOrigins Archive

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Niên đại học