Đồng (tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đồng (tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
đồng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa


Sử dụng tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đơn vị nhỏ hơn
1/10 hào
1/100 xu
Ký hiệu
Tiền kim loại 2, 5 hào và 1 đồng, 2 đồng
Tiền giấy 2, 5 xu, 1, 2, 5 hào, 1, 2, 5, 10, 20, 50, 100, 500,1000,5000 đồng
Ngân hàng trung ương Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang web www.sbv.gov.vn
Hộp thông tin này cho biết tình trạng gần nhất trước khi đồng tiền này dừng phát hành.

Đồngtiền tệ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lưu dụng từ năm 1946 đến ngày 2 tháng 5 năm 1978. Một đồng được chia thành 10 hào; một hào bằng 10 xu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 11 năm 1945, Cơ quan Ấn loát thuộc Bộ Tài chính đã được Chính phủ cho phép thành lập với nhiệm vụ sản xuất tờ bạc Việt Nam để đưa ra lưu hành..

Để củng cố giá trị cho đồng tiền tài chính, lực lượng Việt Minh ra thông cáo năm 1948 là 1 đồng tài chính có giá trị 375 miligam vàng, tương đương với USD 0,48 nhưng số lượng vàng bảo chứng trong ngân khố không thể kiểm chứng được.[1]

Những năm đầu, tất cả những tờ tiến giấy này đều có hình chủ tịch Hồ Chí Minh với tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mệnh giá viết bằng Quốc Ngữchữ Hán.

Miền Bắc, Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 12 năm 1945, Sở Ngân khố đã bắt đầu phát hành các loại tiền kim loại 2 hào, 5 hào và 1 đồng, 2 đồng.

Vào ngày 31 tháng 1 năm 1946, chính quyền VNDCCH đã phát hành tờ bạc Việt Nam cho các địa phương từ vĩ tuyên 16 trở vào. Tiền này thay thế đồng bạc Đông Dương với giá trị tương đương 1:1. Dân chúng quen gọi đó là "tiền tài chính" do Bộ Tài chính phát hành. Tiền giấy xuất hiện đầu tiên in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh nên còn gọi là "tiền cụ Hồ".

Năm 1951, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập, quá trình in và phát hành đồng tiền Tài chính - giấy bạc cụ Hồ kết thúc vai trò lịch sử.

Miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 4 1946, Quốc hội Việt Nam khóa I đã biểu quyết cho phép lưu hành giấy bạc tài chính của Việt Nam trên phạm vi cả nước. Khi chiến tranh lan rộng và Pháp mở cuộc tái chiếm Đông Dương thì đồng bạc Đông Dương được lưu hành trở lại.

Ngày 1 tháng 11 năm 1947, Chủ tịch nước VNDCCH đã ban hành sắc lệnh 102/SL cho phép in bạc Việt Nam tại Nam Bộ.

Trên cơ sở đó, Ban Ấn loát Đặc biệt ở Nam Bộ đã nhanh chóng thành lập tại Đồng Tháp Mười. Thời gian đầu, Ban chỉ có một phân ban đóng tại vùng rừng chàm Cái Bèo thuộc chiến khu Đồng Tháp Mười. Đến đầu năm 1949, thành lập thêm một phân ban nữa tại Gò Bún. Ban Ấn loát Đặc biệt Nam Bộ đã in được các loại giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng.

Tháng 9/1949, di dời về khu 9 Nam Bộ - chiến khu U Minh thuộc tỉnh Bạc Liêu cũ (nay là tỉnh Cà Mau).

Giữa năm 1951, nhập được một số máy móc thiết bị mới. Các loại giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng được in ra với số lượng lớn.

Năm 1954, hiệp định Genève được kí kết, Ban Ấn loát Đặc biệt Nam Bộ kết thúc vai trò lịch sử, ngừng hoạt động (tháng 11).[2]

Đổi tiền[sửa | sửa mã nguồn]

Đổi tiền 1951, 1953[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951, khi thành lập Ngân hàng Quốc gia thì cơ quan này lãnh phần phát hành tiền tệ cùng các dịch vụ tín dụng cho vay kể từ ngày 6 tháng 5, 1951.[3] Ngân hàng này cho lưu hành một loạt tiền mới, tục gọi là "tiền ngân hàng". Tỷ giá là 1 đồng ngân hàng = 10 đồng tài chính cũ.[4] Sang tháng 1 năm 1953 thì ấn định là 1 đồng ngân hàng = 100 đồng tài chính.[1] Trong khi đó ở vùng Pháp kiểm soát thì đồng bạc Đông Dương vẫn được dùng cho đến năm 1955. Hối suất giữa hai loại tiền này là 1 đồng Đông Dương = 40 đồng "tiền ngân hàng".[5]

Năm 1954 sau Hiệp định Genève, đồng "tiền ngân hàng" này đã trở thành tiền chính thức của quốc gia mới mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa được công nhận ở Miền Bắc Việt Nam. Hối suất với piastre lưu hành ở phía nam vĩ tuyến 17 là 30-32 đồng Bắc Việt Nam = 1 piastre hay đồng Nam Việt Nam.

Tỷ giá hối đoái của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thả nổi theo giá thị trường mà được ấn định theo cơ chế kinh tế chỉ huy. Đối với hai quốc gia mật thiết trao đổi hàng hóa với Miền Bắc thì hối suất cố định là 1,47 đồng VNDCCH = 1 Nhân dân tệ Trung Quốc còn với Rúp Liên Xô thì 735 đồng = 1 Rúp. Tỷ số này sau đổi thành 308 đồng = 1 Rúp.[5] Tuy nhiên, ngoài chợ đen, giá được ấn định khác.

Đổi tiền 1959[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 2 năm 1959 Chính quyền phát lệnh đổi tiền, phá giá và thay loạt tiền phát hành trước kia năm bằng loạt tiền mới in ở Tiệp Khắc với tỷ giá 1 đồng 1959 = 1000 đồng năm 1951.[1] Mỗi hộ được đổi tối đa là hai triệu đồng cũ để lãnh 2.000 đồng mới. Số tiền hơn hai triệu phải ký thác vào ngân hàng nhà nước. Mục đích của cuộc đổi tiền là xóa bỏ vốn tư nhân để chính quyền tiếp thu quản lý tài sản và hạn chế lượng tiền lưu thông. Việc đổi tiền là một trong gia đoạn kinh tế mới: "Cải tạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội".[6][7] Đài phát thanh loan tin lệnh đổi tiền từ 9 giờ sáng ngày 28 tháng 2 cho đến 5 giờ chiều ngày 2 tháng 3 thì chấm dứt. Hạn ba ngày tối đa được thi hành ở thành thị. Ở nông thôn chính quyền cho tối đa là 7 ngày còn ở miền xa thì không được quá 20 ngàỵ. Thời gian ngắn ngủi được áp dụng với dụng ý ngăn chặn "đầu cơ, tung tiền tích trữ hàng hóa".[8] Dù vậy, hậu quả giá cả tăng vọt vẫn diễn ra.[5]

  • Loạt tiền mới giấy bạc có sáu tờ: 1 hào, 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng và 10 đồng.
  • Tiền kim loại có 3 đơn vị: 1 xu, 2 xu và 5 xu.[9]

Hối suất ấn định giữa đồng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng Việt Nam Cộng hòa là 70 đồng Bắc Việt = 1 đồng Nam Việt.[1] Trong khi đó tỷ giá hối đoái với tiền rúp Liên Xô được quy định lại vào năm 1961 là 3,27 đồng = 1 rúp.

Lạm phát[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù giá trị đồng tiền là do nhà nước quy định nhưng với tình trạng ngân sách thiếu hụt, đồng tiền mất giá vì nhà nước cho phát hành số lượng tiền càng ngày càng lớn. Trong thời kỳ 1965-1975, lượng tiền lưu hành mỗi năm tăng 34%.[5] Lấy chỉ số giá năm 1959 làm chuẩn thì năm 1966 là 142%, 1968 là 156,4%, 1971 là 145,83% và 1974 là 163,96%.[10]

Vào ngày 3 tháng 5 năm 1978, sau khi hoàn toàn thống nhất mọi mặt đất nước, đồng đã được thống nhất. 1 đồng mới = 1 VNDCCH = 0,8 Đồng Giải phóng.

Mẫu giấy[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu giấy bạc đầu tiên được vẽ bởi nhóm họa sĩ nổi tiếng đương thời của Hà Nội là Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Huyến và sau đó nữa là Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Lê Khả.

Xưởng in[sửa | sửa mã nguồn]

Trước Cách mạng tháng Tám, cả Đông Dương chỉ có hai nhà máy in lớn là nhà máy in Viễn Dôngnhà in To-panh (Taupin) nhưng cả hai bị quân Tàu Tưởng và Pháp chiếm đóng nên không thể sử dụng được.

Trước tình hình đó, Chính phủ phải trưng dụng một số nhà in tư nhân ở Hà Nội và giao cho Ban Ấn loát. Sau đó, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, Bộ Tài chính quyết định nhờ nhà tư sản yêu nước Đỗ Đình Thiện đứng tên và bỏ tiền ra mua lại nhà in To-panh của Pháp (vì Pháp không chịu bán cho Chính phủ VNDCCH) và hiến cho Chính phủ để lập nhà in tiền.[11]

Đầu tháng 3/1946, để đảm bảo an toàn, cơ sở in giấy bạc ở Nhà in To-panh được di chuyển lên Đồn điền Chi-Nê, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình. Đồn điền Chi-Nê trước đây thuộc sở hữu của ông chủ người Pháp tên là Borel và năm 1943 được Đỗ Đình Thiện mua lại và cho mượn một phần đất để đặt nhà máy in tiền.[2]

Tuy nhiên, từ ngày 22/2/1947 đến ngày 3/3, thực dân Pháp cho máy bay oanh tạc khu đồn điền và nhà máy. Bộ Tài chính chuyển nhà máy lên Bến Trảng Đà, tỉnh Tuyên Quang và cuối cùng, chuyển vào rừng núi Việt Bắc, đóng tại Bản Thi.

Ở Trung Bộ, từ quý I năm 1946, Nhà in Ngô Tử Hạ ở đường Hàng Bè (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng - Thành phố Huế) được sử dụng làm cơ sở bí mật in thử giấy bạc Việt Nam. Sau Thỏa thuận 14/9/1946, cơ sở in được dời ra Hiền Sỹ, cách Thành phố Huế 25 km về phía Tây Bắc. Cuối năm 1946 cơ sở này lại tiếp tục di chuyển ra Hà Tĩnh.

Hình tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Smith, Harvey H et al. Area Handbook for North Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967. tr 370.
  2. ^ a ă Bộ Tài chính. Đồng tiền tài chính - Giấy bạc cụ Hồ ở Nam Bộ. Nhà xuất bản Tài chính: Hà Nội 2010. tr12 - 35.
  3. ^ Kolloch, Klaus (1960). "Banking and Currency System in North Vietnam". Deutsche Finanzwirtschaft XIV(17).
  4. ^ Cải cách tiền tệ
  5. ^ a ă â b Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng. Kinh tế Việt Nam, thăng trầm và đột phá. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia: 2009. tr 76-87.
  6. ^ Thống nhất tiền tệ trên toàn miền Bắc
  7. ^ Quốc hội với nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc...
  8. ^ Nghị định 95 Ngân hàng Quốc gia phát hành tiền mới, thay đổi tiền đang lưu hành
  9. ^ Nghị định 27 Phát hành các loại tiền mới
  10. ^ Điều tra đời sông cư dân Giai đoạn 1954-1975
  11. ^ "Thăm nhà máy in tiền đầu tiên ở Việt Nam". Dân Trí. 1 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]