Đồng tính luyến ái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đồng tính)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hướng tình dục
Thiên hướng
Dị tính luyến ái
Đồng tính luyến ái
Song tính luyến ái
Vô tính
Nghiên cứu
Thống kê
Yếu tố sinh học
Yếu tố môi trường
Số lượng anh trai
Đặc điểm tay thuận
Thang Kinsey
Lưới Klein
Tình dục học
Danh sách
Gay flag.svg Chủ đề:Đồng tính,
song tính và hoán tính

Sexes-planetary-sym-dimcolors.svg Chủ đề:Tình dục

Đồng tính luyến ái, hay đồng tính là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.[1][2] Gay (từ tiếng Anh) chỉ đồng tính nam, lesbian (đọc ngắn là les) là chỉ đồng tính nữ.

Cùng với song tính luyến áidị tính luyến ái, đồng tính luyến ái là một trong ba dạng chính của thiên hướng tình dục trong thang liên tục dị tính–đồng tính.[1] Không có sự đồng thuận giữa các nhà khoa học về nguyên nhân hình thành một thiên hướng tình dục nào đó;[1], nhiều chuyên gia nghiêng về những giả thuyết dựa trên những yếu tố sinh học,[3], nhiều chuyên gia khác nghiêng về ảnh hưởng từ môi trường sống, gia đình và xã hội. Nghiên cứu ở Thụy Điển cho thấy: Trong việc hình thành đồng tính luyến ái, yếu tố tác động từ gia đình và xã hội có vai trò chủ yếu, trong khi yếu tố di truyền có tác động từ trung bình tới lớn.[4] Nghiên cứu này kết luận: yếu tố di truyền chiếm 35% trong khi ảnh hưởng từ môi trường xã hội và gia đình chiếm 64% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%[5] Hầu hết mọi người đều không có trải nghiệm hoặc trải nghiệm ít về lựa chọn thiên hướng tình dục của họ.[1]

Theo Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA), ghi nhận: thiên hướng tình dục (bao gồm đồng tính, dị tính hoặc lưỡng tính) không phải là cố định, nó có thể thay đổi từ dạng này sang dạng khác. (APA) tuyên bố rằng "một số người tin rằng thiên hướng tình dục là bẩm sinh và cố định; Tuy nhiên, thực tế khuynh hướng tình dục luôn phát triển trong suốt cả một đời người""[6], và rằng "tại các điểm khác nhau trong cuộc đời, một con người có thể thay đổi giữa các dạng: dị tính, đồng tính nam, đồng tính nữ, hay lưỡng tính" (sự thay đổi ra sao tùy thuộc vào tác động từ gia đình và môi trường xã hội)[7]

Trong lịch sử, đồng tính luyến ái được ghi chép trong nhiều nền văn hóa và được ca tụng hoặc lên án vì mỗi xã hội có những chuẩn mực tình dục khác nhau. Hiện nay, luật pháp về quan hệ đồng tính rất khác biệt ở các nước. Tính tới năm 2012, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 11 quốc gia chấp nhận hôn nhân đồng tính, 21 quốc gia khác chấp nhận đồng tính chung sống dưới hình thức kết hợp dân sự, cùng với đó là một số tiểu bang ở Mỹ, ÚcMéxico.[8] Ngược lại, có trên 80 nước xem đồng tính là tội phạm ở các mức độ khác nhau trong đó 5 nước Iran, Mauritanie, Ả Rập Saudi, SudanYemen, một phần của Nigeria, GambiaSomalia có hình phạt tử hình dành cho tội này).[9] Riêng tại châu Á, mặc dù hiện chưa có quốc gia nào hợp pháp hóa hôn nhân hoặc kết hợp dân sự đồng giới, Israel là nước đầu tiên và duy nhất có luật pháp chấp nhận hôn nhân đồng giới cho người từ nước ngoài tới.

Hành vi đồng tính cũng được quan sát và ghi nhận ở nhiều loài động vật khác con người.[10][11][12][13][14] Những hành vi này có thể bao gồm sự ve vãn, hoạt động tình dục, tình cảm, kết đôi và cùng nuôi con của những cặp cùng giới tính ở động vật. Tuy vậy, theo nhà di truyền học Simon Levay thì: "Mặc dù hành vi tình dục đồng giới là khá phổ biến trong thế giới động vật, nhưng rất hiếm khi các loài vật có khuynh hướng lâu dài để tham gia vào các hành vi như vậy trong khi lại từ chối các hoạt động tình dục khác giới tính. Thiên hướng tình dục đồng tính (thuật ngữ được dùng với loài người), nếu chúng ta có thể nói về điều đó ở động vật, có vẻ là rất hiếm"[15]. Chỉ có một loài động vật (trừ loài người) được ghi nhận là có những cá thể đực chỉ giao phối đồng tính trong khi từ chối giao phối với những con cái, đó là cừu Ovis[16][17]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thái độ xã hội đối với quan hệ đồng giới thay đổi theo thời gian và nơi chốn bao gồm từ việc mong muốn tất cả nam giới có quan hệ cùng giới hoặc chấp nhận hòa hợp tự nhiên cho đến xem như một tội lỗi nhẹ, chịu sự cấm đoán của luật pháp hay tử hình. Trong một cuộc sưu tập các tài liệu lịch sử và dân tộc học của các nền văn hóa thời kỳ Trước Công nghiệp, "có 41% trong số 42 nền văn hóa phản đối mạnh mẽ, 21% chấp nhận hoặc phớt lờ và 12% không có khái niệm. Trong số 70 dân tộc, 59% không có hoặc hiếm có sự xuất hiện của đồng tính luyến ái; tại 41% còn lại, đồng tính có xảy ra hoặc không phổ biến."[18]

Trong những nền văn hóa chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, luật pháp và nhà thờ qui định kê gian là một tội lỗi chống lại thần thánh hoặc tự nhiên. Tuy nhiên, sự lên án tình dục hậu môn của nam và nam có từ tư tưởng Kitô giáo. Sự lên án này cũng thường thấy ở Hy Lạp cổ đại, cụm từ "không tự nhiên" có thể có từ triết gia Plato.[19]

Những cụm từ như đồng tính luyến ái hoặc song tính luyến ái từng được dùng bởi nhiều nhân vật lịch sử như Socrates, Lord Byron, Edward IIHadrian. Vài học giả, chẳng hạn như Michel Foucault, coi đây là sự giải thích sai về mặt niên đại, dựa trên quan niệm tình dục đương đại cho thời đại của những nhân vật này,[20] mặc dù nhiều học giả khác đã không thừa nhận quan điểm của những học giả trên.[21]

Về sự tự nhiên của đồng tính luyến ái và sự biểu hiện trong lịch sử, có hai quan điểm trái ngược nhau đại diện bởi cách tiếp cận kiến tạo luận (constructionist) và bản chất luận (essentialist). Nhìn chung, chủ nghĩa kiến tạo luận xã hội xem xét rằng nhiều đặc tính của một nhóm xã hội nào đó, chứ không phải là bản chất tự nhiên của chính cá nhân, đã dẫn đến "sự kiến tạo xã hội". Trong khi đó, chủ nghĩa bản chất luận bảo vệ sự tồn tại của bản chất thực sự. Bản chất đó xác định biểu hiện của một cá nhân và những thứ học được từ xã hội mang tính thứ yếu. David M. Halperin dành một chương: Đồng tính luyến ái: sự kiến tạo văn hóa trong tác phẩm Một trăm năm đồng tính luyến ái cho chủ đề này.[22] Ông nói rằng chủ nghĩa bản chất luận áp dụng vào phân loại tình dục nói lên rằng những thuật ngữ đồng tính hay dị tính chỉ nhưng đặc tính cá nhân thuộc về bản chất, không thay đổi được về mặt văn hóa. Ngược lại, chủ nghĩa kiến tạo cho rằng những thuật ngữ này là tên của những quá trình xã hội. Halperin nghiên về lập luận thứ hai vì ông coi tình dục, bao gồm đồng tính, từng được biển hiện dưới nhiều hình thức khác nhau một cách cơ bản trong những xã hội khác nhau ngày nay. Tuy nhiên ông, trích dẫn Esteven Epstein,[23] so sánh sự tranh luận giữa bản chất luận và kiến tạo luận với tự nhiên đối chọi nuôi dưỡng (nature versus nurture).[24]

Châu Á và Nam Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản, được biết đến dưới dạng chúng đạo hay nam sắc (những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Hoa), được ghi nhận từ hơn một ngàn năm và từng là một phần trong đời sống Phật giáo và truyền thống samurai. Văn hóa tình yêu đồng giới làm truyền thống hội họa và văn chương mô tả những mối quan hệ đó được nâng cao. Tại Thái Lan, Kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội trong nhiều thế kỷ và quốc vương Thái Lan cũng có các "cung phi" là nam cũng như nữ. Kathoey có thể nữ tính hoặc là biến trai làng (transvestism). Thái Lan chưa từng có luật cấm đồng tính luyến ái hoặc hành vi đồng tính, nhưng cũng không công nhận quan hệ giữa họ.[cần dẫn nguồn]

Tại Trung Đông, nhiều nhà thơ Hồi giáo (hầu hết là Sufi) tại các nước Ả RậpBa Tư trong thời trung cổ đã viết thơ ca tụng những cậu bé đem rượu cho họ trong các quán rượu và ngủ chung giường với họ [25] Tại Trung Á, trên Đường tơ lụa, nơi giao điểm giữa hai nền văn hóa đông-tây, đã nảy ra một văn hóa đồng tính luyến ái. Trong đó có người bacchá, thường là người tiếp đãi viên đồng thời làm nghề mại dâm thanh niên phái nam ăn mặc lộng lẫy và có trang điểm. Những người bachá hát và múa những bài hát khiêu dâm cho khán giả. Họ được huấn luyện từ còn nhỏ và làm việc cho đến khi râu mọc [26].

Trong xã hội Melanesia, đặc biệt ở Papua New Guinea, quan hệ cùng giới là một nét văn hóa cho đến giữa thế kỷ trước. Người Etoro và người Marind-anim còn coi dị tính luyến ái là tội lỗi và tôn vinh đồng tính luyến ái. Trong truyền thống Melanesia, một cậu bé chưa dậy thì sẽ được bắt cặp với một thiếu niên, người này sẽ trở thành tư vấn thụ tinh cho cậu bé (đường miệng hay hậu môn tùy thuộc vào bộ tộc) trong vài năm để làm cho cậu bé đó dậy thì. Tuy nhiên, nhiều xã hội Melanesia trở nên căm ghét quan hệ cùng giới khi các nhà truyền giáo châu Âu đến truyền giáo.[27]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Người đàn ông La mã và một thiếu niên trên giường vào giữa thế kỷ 1. Tìm thấy gần Jerusalem.

Những tài liệu Tây phương lâu đời nhất (trong hình thức mỹ thuật, văn học, và truyền thuyết) về mối quan hệ đồng tính được tìm thấy từ thời cổ Hy Lạp, nơi các mối quan hệ đồng tính được xã hội tạo nên, được thành lập qua thời gian từ thành phố này đến thành phố khác. Lệ này, một hệ thống của những quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một thanh niên đang trưởng thành, được xem là có giá trị dạy dỗ, đồng thời để kiềm chế mức độ gia tăng dân số, đôi khi bị xem là làm mất trật tự. Plato đã ca ngợi những lợi ích của việc này trong các tác phẩm ban đầu[28], nhưng trong các tác phẩm sau này ông đã đề nghị ngăn cấm nó[29].

Trong Kinh Thánh có mô tả về Thành phố Sodome, nơi mà nhiều cư dân nam có hành vi tình dục đồng giới. Thành phố này đã bị thiêu hủy bởi trận mưa lửa từ trên trời do Thượng Đế giáng xuống để trừng trị sự thác loạn của cư dân nơi đây. Từ Sodome cũng trở thành thông dụng để chỉ việc quan hệ tình dục đồng giới của nam tại phương Tây. Trong thời Phục Hưng, những thành phố ở miền bắc nước Ý, đặc biệt là FirenzeVenezia nổi tiếng về đồng tính, được một phần khá lớn dân số nam tuân theo và được tạo theo kiểu mẫu ở Hy Lạp và La Mã (Ruggiero, 1985; Rocke, 1996). Tuy nhiên, trong khi một phần khá lớn dân số nam theo tục lệ này, những nhà chức trách vẫn khởi tố, phạt và bắt nhiều người.

Vị vua lừng danh Friedrich II Đại Đế, tức "Friedrich Độc đáo", trị vì nước Phổ từ năm 1740 cho đến năm 1786,[30] cũng bị nghi vấn đồng tính luyến ái. Có người đương thời nói ông hoang dâm với các triều thần.[31] Nhiều quan lại trong triều đình Phổ lúc đó hay đem sự loạn dâm đồng tính ra làm chủ đề đùa cợt.[32]

Châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong xã hội thổ dân Bắc Mỹ, hình thức đồng tính luyến ái phổ biến nhất là những người được xem là có hai linh hồn. Những người này được hầu hết các bộ lạc công nhận và đặt tên cho vai trò này. Thường những người có hai linh hồn được công nhận lúc còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn để theo con đường này [33]. Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các nhiệm vụ của mình, theo các phong tục của giới tính mà nó đã chọn. Những người này thường làm thầy pháp nhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn các thầy pháp thường. Trong lĩnh vực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những người khác phái.

Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Lá cờ cầu vồng, một biểu tượng của cộng đồng LGBT, trong đó có người đồng tính, trong lễ Phục sinh của người đồng tính ở Gemeinde Werneuchen, Đức, tháng 4 năm 2006.

Từ năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần nữa. Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sự hình thành của một "nền văn hóa đồng tính". Tuy nhiên, cũng có nhiều người đồng tính không tham gia trong cộng đồng đó. Sau khi bị chính quyền Đức quốc xã cố ý tiêu diệt trong Đệ nhị thế chiến, những người đồng tính đã giành được nhiều quyền, đặc biệt là tại các nước Tây phương.

Những nổ lực nhằm giải phóng đồng tính luyến ái được cho là bắt đầu từ thập niên 1860 và từ giữa thập niên 1950, sự đòi hỏi công nhận quyền cho người đồng tính và song tính luyến ái ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, chứng ghê sợ đồng tính luyến ái vẫn tồn tại, đặc biệt là nó làm cho nhiều người gặp nhiều khó khăn trong xã hội đôi khi dẫn đến tự tử.[34] Một số quốc gia gần đây đã cho phép người đồng tính có quyền kết hôn cũng như nhận con nuôi. Sự xuất hiện của HIV/AIDS từ giữa thập niên 1980 là một trong những vấn đề mà người đồng tính phải đương đầu trong thời gian gần đây.

Trong lĩnh vực tôn giáo, một số nhóm tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với người đồng tính. Một giáo phái Do Thái giáo đã bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôn cho người đồng tính, trong khi nhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính. Một số ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng như Cher, Madonna,Lady Gaga, Christina Aguilera, Cyndi Lauper,... đã đưa chủ đề người đồng tính vào những bài hát, video âm nhạc, những màn biểu diễn của mình để bày tỏ sự ủng hộ của họ với giới đồng tính luyến ái. Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một bộ phận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York [35][36] và sau đó được phát triển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên 1970.

Tâm lý học về đồng tính luyến ái[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thực giới tính và nhận thực tính dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, Hiệp hội Lao động Xã hội Quốc gia (Hoa Kỳ) khẳng định:

Thiên hướng tình dục không đơn thuần là một đặc điểm cá nhân có thể định nghĩa một cách độc lập mà nó là thế giới của từng cá nhân hướng tới một người nào đó mà người này có thể đảm bảo hoặc đáp ứng một mối quan hệ, mà mối quan hệ này thể hiện được bản chất cá nhân của mình.[37]

Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu năm 1973, với 58% phiếu thuận và 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng)[38]. Ảnh hưởng bởi các quyết định này, năm 1975, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) cũng đưa ra kết luận tương tự và đến năm 1990 là Tổ chức y khoa thế giới. Tuy nhiên, đến nay vẫn có những tổ chức và nhà tâm lý học phản đối những quyết định này. Họ cho rằng quyết định đó là do áp lực chính trị dữ dội từ các tổ chức ủng hộ đồng tính chứ không phải vì các bằng chứng khoa học vững chắc[39][40] (xem các tranh luận tại Tâm lý học về đồng tính luyến ái)

Các nhà tâm lý học phản đối cho rằng: không có bất kỳ bằng chứng khoa học hợp lệ nào để chứng minh đồng tính luyến ái không phải là một vấn đề tâm thần, trong khi quyết định này đã "xóa bỏ không chỉ hàng trăm báo cáo nghiên cứu tâm thần và phân tâm học; mà cả một số nghiên cứu toàn diện bởi nhóm các bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học uy tín trong hơn 70 năm trước đó". Việc các biện pháp trị liệu không có tác dụng, sự không lây lan... không thể lấy làm lý do để loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh (ví dụ: Hội chứng Down cũng là không lây và hiện không thể chữa)[41]. Thực tế, tài liệu của APA cũng ghi nhận rằng với nhiều người, thiên hướng tình dục không phải là bẩm sinh, bất biến mà còn có sự ảnh hưởng từ môi trường. Nhiều người đã xuất bản sách nói về sự tự từ bỏ thiên hướng đồng tính sau khi trị liệu tâm lý[42][43][44][45] Truyền thông đại chúng cũng góp sức lan truyền sự thiếu sót về khoa học đó khi không đăng tải những nghiên cứu dạng như vậy, trong khi lại loan tải những thông tin mà các tổ chức ủng hộ đồng tính đưa ra vì dễ bán chạy hơn.[39]

Tiến sĩ Stanton L. Jones, giáo sư tâm lý học tại Đại học Wheaton, nói rằng ông có Bảng tổng hợp ý kiến giữa các chuyên gia về điều này: "Tôi sẽ không coi đồng tính luyến ái là một dạng bệnh giống như tâm thần phân liệt hay rối loạn ám ảnh. Nhưng cũng không thể xem nó là một "lối sống bình thường" giống như kiểu sống nội tâm hoặc sống hướng ngoại."[46]

Các yếu tố hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó bao gồm:

  • Kiểu gen (bẩm sinh).[47]: Nhiều người nghĩ đồng tính là bẩm sinh và do gen quyết định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Peter BearmanHannah Bruckner, từ Đại học ColumbiaĐại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, cho biết xác suất cả 2 người trong cặp song sinh đều là đồng tính chỉ là 6,7% với nam và 5,3% với nữ. Họ kết luận: kiểu gen chỉ là một trong những nguồn gốc của đồng tính luyến ái, những nguyên nhân khác như ảnh hưởng từ văn hóa, xã hội và gia đình với trẻ em đóng vai trò quan trọng hơn[48]
  • Môi trường sống và sự dạy dỗ.[47]
    • Sự tương quan với môi trường sống: đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi đối tượng ở lúc 14 tuổi (độ tuổi bắt đầu dậy thì và có sự định hình về hấp dẫn giới tính). Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ. Mức độ thị hóa càng cao thì tỷ lệ đồng tính càng có xu hướng tăng, nguyên nhân vì ở các thành phố lớn có các chuẩn mực đạo đức lỏng lẻo hơn, lối sống cá nhân cao hơn cũng như có nhiều tác động văn hóa-xã hội khó kiểm soát, khiến vị thành niên tại đó dễ có thiên hướng đồng tính hơn.[49][50][51][52].
    • Yếu tố gia đình: sự thiếu bảo bọc của người cha và sự gắn bó quá mật thiết với người mẹ là nhân tố chính hình thành đồng tính ở nam giới. Đối với nữ, việc có mẹ qua đời ở tuổi vị thành niên, là con út hay con gái duy nhất trong gia đình cũng làm tăng khả năng đồng tính. Những người có cha mẹ ly hôn hoặc mất sớm sẽ có xu hướng đồng tính cao hơn những người có cha mẹ hạnh phúc[53][54][55]
    • Chấn thương tâm lý: Việc bị chấn thương tâm lý do bị lạm dụng tình dục cũng là một yếu tố. Một nghiên cứu trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ phát hiện ra rằng "vị thành niên bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là nam giới, có khả năng tự nhận mình là người đồng tính hay lưỡng tính cao gấp 7 lần so với những người không bị lạm dụng"[56] Một nghiên cứu khác cho thấy rằng "46% nam đồng tính so với 7% của nam dị tính báo cáo rằng đã bị lạm dụng tình dục. Con số này tương ứng là 20% trong số đồng tính nữ so với 1% ở nữ dị tính"."[57]
    • Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn. Tại Mỹ, đã có sự gia tăng số phụ nữ cảm thấy thu hút đồng tính. Nhà nghiên cứu Binnie Klein cho rằng "rõ ràng là một sự thay đổi trong xu hướng tình dục trong tâm trí nhiều người hơn hơn bao giờ hết, và có nhiều cơ hội hơn - và sự chấp nhận - để vượt qua làn ranh (về giới tính)"[58] Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), cho biết: cùng với phong trào ủng hộ đồng tính lên cao, từ năm 1994, số đồng tính nam (ở Mỹ) đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh".
  • Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam).[59]: Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%.[60][61][62][63] Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam.[64] Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.[65]
  • Hoócmôn trong giai đoạn bào thai.[66][67]: Các chuyên gia của Viện Toán và Tổng hợp sinh học quốc gia (Mỹ) cho rằng đồng tính luyến ái có liên hệ với “ngoại tố di truyền học”, gọi là epi-mark. Epi-mark về giới tính được sản sinh trong giai đoạn đầu bào thai, nhằm bảo vệ giới tính không bị testosterone ảnh hưởng, ngăn bào thai nữ phát triển theo hướng nam tính và ngược lại. Tuy nhiên trong một số trường hợp, những epi-mark đó được truyền từ cha sang con gái hoặc từ mẹ sang con trai, gây hiệu ứng đảo nghịch về sự hấp dẫn giới tính[68]
  • Sự lo âu của người mẹ khi mang thai.[69][70][71]
  • Tổng hợp của các yếu tố trên.

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định rằng “Thiên hướng tình dục được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường”.[72] Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lý học khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố, trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trong thời thơ ấu. Tiến sĩ tâm lý học nổi tiếng người Tây Ban Nha là Enrique Rojas thì cho rằng: 95% nguyên nhân dẫn tới đồng tính là do các yếu tố môi trường như sự thiếu vắng quan tâm của người cha, người mẹ hung dữ hoặc bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu.

Năm 2012, nghiên cứu của trường Queen Mary và Viện Nghiên cứu KarolinskaStockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: dù có bộ gen giống hệt nhau, tỷ lệ số cặp song sinh cùng là đồng tính khi trưởng thành là rất thấp. Nghiên cứu kết luận: môi trường xã hội là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ là thứ yếu. Cụ thể, kiểu gen chiếm 35% còn ảnh hưởng từ môi trường xã hội lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố tương đồng) chiếm 64% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%[5]

Tỷ lệ đồng tính trên dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với những nhà nghiên cứu, việc xác định tỷ lệ người đồng tính và tỉ lệ người từng trải nghiệm tình dục đồng giới một cách đáng tin cậy là điều khó khăn vì nhiều lý do khác nhau, cũng như không rõ tỷ lệ này có khác nhau ở các nhóm dân tộc riêng biệt hay không.[16] Nếu phân chia theo giới thì tỷ lệ nam đồng tính cao hơn khoảng 2 lần so với nữ đồng tính.

Ở các nước phương Tây hiện đại, theo nhiều ước tính, 1% đến 5% dân số phương Tây là đồng tính, và 2% đến 10% đã từng trải nghiệm vài dạng hành vi tình dục đồng giới trong cuộc đời.[73][74][75][76][77][78][79][80] Trong một nghiên cứu 2006 ở Úc, có 20% số người trả lời từng có cảm giác về tình dục đồng giới, nhưng chỉ có 2% tự nhận là đồng tính (tức là có cảm giác yêu đương với người đồng giới).[cần dẫn nguồn] Thống kê quy mô nhất là ở Canada: khảo sát 121.300 người trên 18 tuổi, có 1,43% tự nhận mình là đồng tính hoặc lưỡng tính.[cần dẫn nguồn]

Còn tại châu Á, có ít khảo sát về vấn đề này hơn. Tại Trung Quốc, một ước tính cho biết có khoảng 2,25 triệu đồng tính nam, chiếm khoảng 0,17% dân số[81] Tại Việt Nam, nghiên cứu do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số.[82] Tại Indonesia, Bộ sức khỏe ước tính có khoảng 55.000 đồng tính nam trên cả nước (chiếm 0,025% dân số). Có thể thấy số người đồng tính ở châu Á thấp hơn rất nhiều so với Châu Âu, điều này có thể giải thích bởi yếu tố bối cảnh gia đình, văn hóa và xã hội ở châu Á ít tạo điều kiện cho việc hình thành thiên hướng đồng tính ở thanh thiếu niên (xem thêm tại Tính linh động của Thiên hướng tình dục).

Tính cố định hoặc linh động của thiên hướng tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người cho rằng thiên hướng tình dục là không thể thay đổi giống như màu tóc, vân tay... Nhưng thực ra, thiên hướng tình dục (bao gồm đồng tính, dị tính hoặc lưỡng tính) không phải là cố định, nó có thể thay đổi từ dạng này sang dạng khác. Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) tuyên bố rằng "một số người tin rằng thiên hướng tình dục là bẩm sinh và cố định; Tuy nhiên, thực tế khuynh hướng tình dục luôn phát triển trong suốt cả một đời người""[6] Trong một tuyên bố phát hành cùng với Tổ chức y tế Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cho rằng "những người khác nhau nhận ra tại các điểm khác nhau trong cuộc đời rằng họ là dị tính, đồng tính nam, đồng tính nữ, hay lưỡng tính"[7] Một báo cáo từ Trung tâm Y tế và sức khỏe tâm thần cho biết: "Đối với một số người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời họ. Đối với những người khác, thiên hướng tình dục có thể là linh động và thay đổi theo thời gian".[83] Nghiên cứu của Lisa Diamond về "Lưỡng tính nữ từ tuổi vị thành niên đến tuổi trưởng thành" cho thấy rằng có "tính lưu động đáng kể trong thiên hướng lưỡng tính, hoặc không rõ ràng, và đồng tính nữ tại thời điểm khảo sát, về hành vi và bản sắc"[84][85]

Những nghiên cứu trên cho thấy: Tính cố định hoặc linh động của thiên hướng tình dục phụ thuộc vào từng cá nhân. Đối với nhiều người, thiên hướng tình dục là cố định và không thay đổi. Nhưng với nhiều người khác, điều này lại không phải là bẩm sinh mà nó có thể biến đổi theo thời gian, có thể từ dị tính sang đồng tính hoặc ngược lại. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè...). Tiến sĩ Neil Whitehead và vợ ông là Briar, hai thành viên của tổ chức ủng hộ liệu pháp chuyển đổi NARTH, thông qua việc tổng kết nhều thống kê khác nhau, ghi nhận tuyên bố của van den Aardweg rằng: trong 2/3 những trường hợp mà ông điều trị, thiên hướng đồng tính đã biến mất hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện.[86]

Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng: nhiều người đã tự phủ định khuynh hướng đồng tính khi nó manh nha xuất hiện trong tâm trí họ nhằm tránh phải xung đột với các giá trị xã hội và tôn giáo[87][88][89][90] Sau khi xem xét các nghiên cứu, Judith Glassgold, chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ phụ trách về tâm lý tình dục, cho biết một số người có sự tự phủ định khuynh hướng đồng tính và "không có bằng chứng rõ ràng về tác hại (của sự tự phủ định này)"[91]

Năm 2006, Tiến sĩ Jeffrey Satinover cho biết: đã tồn tại các bằng chứng vững chắc dịch tễ học, được xác nhận và khẳng định rộng rãi, rằng đồng tính luyến ái thể hiện thường xuyên nhất ở tuổi vị thành niên. Đối với một số vị thành niên, khuynh hướng đồng tính sẽ duy trì mãi về sau, nhưng với số còn lại, nó sẽ giảm một cách tự nhiên theo sự trưởng thành, và cuối cùng sẽ biến mất, trừ khi nó được "hỗ trợ và khuyến khích". Ông cũng ghi nhận rằng các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển giới tính của những người trẻ tuổi là bối cảnh xã hội và gia đình. Do đó, nếu xã hội ngày càng dung nạp hoặc cổ vũ cho đồng tính luyến ái thì sẽ "dẫn đến số lượng ngày càng gia tăng của những người tự nhận mình là đồng tính".[92] Lập luận này của Satinover được ông trích dẫn nhiều số liệu thống kê để chứng minh.[92]

Nghiên cứu khácai?Canada năm 2004 cho biết: với những người thuộc nhóm trên 65 tuổi, tỷ lệ tự nhận mình là đồng tính hoặc lưỡng tính là 0,37%, thấp hơn gần 6 lần so với tỷ lệ 1,96% ở nhóm 18-34 tuổi.[cần dẫn nguồn] Nghiên cứu 7.500 người ở Úc năm 2003 cho thấy: ở độ tuổi 20-24, tỷ lệ đồng tính nam là 2,8% và đồng tính nữ là 4,6%, nhưng đến độ tuổi 50-54, tỷ lệ tương ứng đã tụt xuống còn 1,9% và 1%[93] Nghiên cứu về thanh niên trong độ tuổi 21-26 ở New Zealand cho thấy: 1,9% nam giới từ đồng tính trở thành bình thường, trong khi 1% từ bình thường trở thành đồng tính (con số tương ứng ở nữ là 9,5% và 1,3%); hấp dẫn đồng tính là không ổn định ở tuổi dậy thì, đặc biệt là ở nữ; tỷ lệ đồng tính nữ ở New Zealand cao hơn nhiều so với AnhMỹ (2 nước có thái độ xã hội khắt khe với đồng tính hơn so với New Zealand)[cần dẫn nguồn]. Những quan sát này, cùng với sự thay đổi về giáo dục, phù hợp với một vai trò tác động to lớn của môi trường xã hội tạo nên người đồng tính[94]

Các vấn đề tâm lý và lối sống[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi theo quan điểm của nhiều người, những hành vi đồng tính là ‘không tự nhiên’ và ‘không bình thường’,[95] những nghiên cứu chỉ ra rằng đồng tính luyến ái là một ví dụ cho thấy sự đa dạng của tình dục loài người và nó không phải là nguyên nhân dẫn tới ảnh hưởng tâm lí xấu.[1][96] Từ cuối những năm 1990, nhiều nghiên cứu ngẫu nhiênai? đã buộc các nhà tâm lý trị liệu xác nhận rằng đồng tính và lưỡng tính luyến ái đi kèm với tỷ lệ gia tăng của bệnh tâm thần, nhưng họ nhanh chóng chỉ ra rằng đó là kết quả của sự phân biệt đối xử, thành kiến và kỳ thị.[96]

Tuy nhiên, Luật sư Mathew D. Staver, chủ tịch tổ chức chống đồng tính Liberty Counsel[97], trong sách "Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk" nói rằng có nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã lập luận chống lại quan niệm này, và cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy bản chất của người đồng tính và lưỡng tính luôn có liên kết với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần, bất kể dù họ không bị kỳ thị. Ông Mathew D. Staver còn dẫn báo cáo trong Tạp chí sức khỏe tâm thần Havard, cho biết tỷ lệ người đồng tính Hà Lan gặp phải vấn đề tâm lý vẫn cao hơn rất nhiều mức trung bình, dù Hà Lan là nước đặc biệt cởi mở với đồng tính và hôn nhân đồng tính ở đây là hợp pháp[98].

Theo nghiên cứu công bố năm 1997 của Paul Van de Ven và cộng sự trên 256 người đồng tính cao tuổi (trên 49 tuổi), phần lớn ở ÚcNew Zealand, về số lượng đối tác tình dục cho thấy: 21,6% có từ 100 đến 500 bạn tình, chỉ 2,7% có duy nhất 1 bạn tình, các nhóm khác (gồm 2-10, 11-20, 21-50, 51-100, 501-1.000 và trên 1.000 bạn tình) chiếm tỉ lệ dao động từ 10,2-15,7%. Khoảng 45% đã có quan hệ tình dục với từ 2 tới 10 bạn tình trong vòng 6 tháng gần nhất[99]. Khảo sát năm 1991 ở New York của Meyer-Balburg H. Exner và cộng sự trên 121 nam đồng tính có HIV và 81 nam đồng tính không có HIV cho kết quả: mỗi đồng tính nam có HIV, là nhóm có nhiều hành vi nguy cơ nhất, có trung bình 308 đối tác tình dục trong suốt cuộc đời, trong khi con số này của đồng tính nam không có HIV, nhóm có hành vi nguy cơ ít hơn, là 143[100] Đối với đồng tính nữ cũng tương tự, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam lẫn nữ. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.[101]

Khảo sát tại Mỹ cho thấy: 32% người đồng tính nghiện rượu,[102], tỷ lệ lạm dụng thuốc của người đồng tính là khoảng 28-35%, so với tỷ lệ 10-12% trong dân số nói chung[103]. Một nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm tiến bộ Hoa Kỳ (tổ chức chuyên nghiên cứu chính sách công cộng) cho biết: 25% người đồng tính và chuyển giới nghiện rượu so với mức 5-10% của toàn nước Mỹ, đồng tính nam có tỷ lệ nghiện thuốc lá cao hơn 2 lần, tỷ lệ dùng chất kích thích gấp 12 lần, dùng cần sa gấp 3,5 lần và heroin gấp 9,5 lần so với nhóm nam giới còn lại.[cần dẫn nguồn] Các nghiên cứu phát hiện ra rằng người đồng tính ở Đan Mạch - nơi rất khoan dung với đồng tính - có tuổi thọ trung bình chỉ là 51 đối với nam và 56 với nữ, trong khi tuổi trung bình của người Đan Mạch là 74 với nam và 78 với nữ. Ở Na Uy, đồng tính có tuổi thọ trung bình thấp hơn 25 tuổi so với trung bình cả nước.[cần dẫn nguồn]

Theo tiến sĩ Richard Fitzgibbons thuộc tổ chức thúc đẩy sức khỏe hôn nhân Institute for Marital Healing (Viện Chữa trị Hôn Nhân)[104] thì ông quan sát thấy có bằng chứng rằng đồng tính luyến ái tự nó là một biểu hiện của một rối loạn tâm lý. Fitzgibbons cho rằng chứng rối loạn này được đi kèm với một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm cả "trầm cảm nặng, ý định tự sát, rối loạn lo âu, lạm dụng chất kích thích, rối loạn hành vi, lòng tự trọng thấp ở nam giới và quan hệ tình dục bừa bãi, không có khả năng duy trì các mối quan hệ đã cam kết". Tiến sĩ Neil Whitehead cho biết: "Các nghiên cứu gần đây cho thấy người đồng tính có nguy cơ bị các vấn đề tâm thần lớn hơn đáng kể so với người dị tính... tỷ lệ tự tử, trầm cảm, chứng háu ăn, rối loạn nhân cách chống xã hội, và lạm dụng chất kích thích cao hơn. Các nghiên cứu được thực hiện tại Hà Lan cho thấy rất nhiều chứng tâm thần ở những người đồng tính, dù đây là đất nước mà sự khoan dung với đồng tính lớn hơn ở hầu hết các nước khác. Sự kỳ thị xã hội lớn hơn tại Hoa Kỳ đã không dẫn đến mức độ cao hơn của các vấn đề tâm thần." Ông khẳng định: "Lý do phù hợp nhất chính là đồng tính luyến ái - tự bản thân nó, trong hình thức cực đoan nhất của nó, chính là sự rối loạn tâm lý". Vì vậy theo các nhà nghiên cứu này, trong tương lai, sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi buộc phải ghi nhận việc điều trị tâm lý đối với người đồng tính và lưỡng tính[105]. Theo Tiến sĩ Neil Whitehead thì trong tương lai, các nghiên cứu sâu hơn và không bị chính trị can thiệp có thể sẽ đưa đồng tính trở lại danh sách các chứng bệnh tâm thần.[106]

Quan hệ tình cảm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quan hệ đồng giới

Mỗi người đồng tính có thể thể hiện tình dục của họ bằng cách này hay cách khác, và cũng có thể không có hành vi nào thể hiện ra.[107] Một số chủ yếu quan hệ tình dục với người cùng giới, một số chủ yếu với người khác giới, cả hai giới hoặc kiêng tình dục.[107] Nghiên cứu cho thấy nhiều người đồng tính mong muốn có mối quan hệ bền vững và một phần trong số họ cũng đã thực hiện được. Một kết quả thống kê cho thấy 40% đến 60% đồng tính nam và 45% đến 80% đồng tính nữ hiện đang có một quan hệ tình cảm.[108] Có những nghiên cứu cho thấy các cặp đồng tính và các cặp dị tính là tương đương nhau về mặt toại nguyện và sự gắn kết nhiều hay ít trong quan hệ tình cảm.[109][110] Nghiên cứu cho thấy đặc điểm tuổi tác và giới tính có liên quan nhiều đến sự toại nguyện và sự gắn kết hơn là thiên hướng tình dục; người đồng tính và người dị tính có chung những mong muốn và lý tưởng trong tình cảm.[111]

Tuy nhiên thống kê cũng cho thấy chỉ có 18-28% cặp đồng tính nam và 8-21% cặp đồng tính nữ ở Hoa Kỳ đã sống với nhau được 10 năm trở lên.[112]. Khảo sát ở Na Uy và Thụy Điển cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường[113] Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".[114]

Một nghiên cứu về đồng tính namHà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm[115] Đối với đồng tính nữ, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam giới. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.[101] Như vậy quan hệ giữa các cặp đồng tính kém bền vững hơn nhiều các cặp dị tính, trong khi số bạn tình lại nhiều hơn hẳn. Lý do được đưa ra là họ ít có ràng buộc, chẳng hạn như không có hôn thú và con cái, bên cạnh đó là do lối sống thích tìm kiếm nhiều bạn tình mới của họ. Trong nghiên cứu của Michael Pollack, ông thấy rằng "ít khi mối quan hệ đồng tính kéo dài hơn hai năm, nhiều đàn ông đồng tính cho biết họ đã có hàng trăm bạn tình"[116]

Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.[117]. Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất khác biệt so với thông thường. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ.

Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường[118]. Trong nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Giới tính, Paul Van de Ven khảo sát 2.583 nam đồng tính lớn tuổi và thấy rằng "số lượng bạn tình phổ biến (của nam đồng tính) là 101-500. Ngoài ra, 10,2% đến 15,7% đã có từ 501 đến 1.000 bạn tình. 10,2% đến 15,7% cho biết đã có hơn 1.000 bạn tình[119].

Nghiên cứu của Sondra E. SolomonEsther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ[120].

Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết hôn nhân:

Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Và họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.[121]

Khả năng thay đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Vài người đồng tính và song tính tìm cách giảm bớt ham muốn, tránh xa quan hệ đồng giới hoặc thay đổi thiên hướng tình dục. Họ thay đổi bằng trị liệu, thực hiện quy tắc tôn giáo hoặc tham gia vào các nhóm ex-gay (như nhóm Exodus International). Các tổ chức này thường có quan hệ mật thiết với các nhóm tôn giáo.[122] Năm 2009, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, sau khi xem xét 83 cuộc nghiên cứu về các liệu pháp chuyển đổi được thực hiện từ năm 1960, đã tuyên bố không có bằng chứng cho thấy nỗ lực thay đổi thiên hướng tình dục sẽ đưa lại kết quả, và cho biết một số nghiên cứu cho thấy các nỗ lực này có thể sẽ gây hại, dẫn đến sầu muộn và các ý tưởng tự tử.[123] Nhiều tổ chức sức khỏe và tâm thần phương Tây tin rằng thiên hướng tình dục luôn tiến triển trong suốt cuộc đời[6] và họ tôn trọng sự tự quyết định của mỗi người.[124] Các tổ chức này khuyến cáo rằng không nên cố gắng thay đổi thiên hướng tình dục vì lo ngại có tác hại nào đó.[125] Hoạt động của các nhóm ex-gay và việc trị liệu trong trường học tại Hoa Kỳ bị tranh cãi nhưng lại được các tòa án Mỹ cho phép.[126] Năm 2012, tiểu bang California ở Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật cấm áp dụng liệu pháp chuyển đổi đối với vị thành niên.[127]

Tuy nhiên, các nhà ủng hộ liệu pháp trị liệu thì cho rằng họ đã đạt thành công trong nhiều trường hợp. Theo báo cáo của Jeffrey Satinover, ông đạt được tỉ lệ 50-70% thành công trong việc thay đổi khuynh hướng tình dục từ đồng tính trở thành bình thường[128]. Các nghiên cứu tương tự đã khiến một số chuyên gia thừa nhận rằng khuynh hướng tình dục không phải là bất biến và việc thay đổi nó là có thể. Nhiều người đồng tính (dù không phải là tất cả) có thể thay đổi khuynh hướng tình dục của mình thông qua một loạt các nỗ lực tâm lý và tư vấn.[129] Báo cáo năm 2009 của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng có đánh giá đột phá về trị liệu đối với khách hàng đồng tính muốn đấu tranh để vẫn trung thành với đức tin tôn giáo và không chấp nhận mình là đồng tính. Chủ tịch của Liên minh Công giáo quốc tế, Alan Chambers, mô tả bản thân mình là một người "đã vượt qua thu hút đồng tính không mong muốn", và ông bày tỏ sự hài lòng với phần này của báo cáo.[123]

Judith Glassgold hi vọng rằng báo cáo 2009 sẽ làm dịu tranh cãi giữa 2 bên ủng hộ và phản đối: "Các nhà tâm lý tôn giáo nên nhìn nhận khía cạnh tích cực của người đồng tính. Các nhà trị liệu thế tục thì phải nhận ra rằng một số người sẽ chọn đức tin của họ thay vì ham muốn tình dục.".[123]

Đồng tính luyến ái và rối loạn định dạng giới[sửa | sửa mã nguồn]

Cần phân biệt người có xu hướng tình dục đồng giới khác với ba dạng khác[130]:

  • Trạng thái tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác và tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm Hormone).
  • Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là những người chỉ thích mặc quần áo khác giới để cảm thấy mình đặc biệt so với người khác.

Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (gender identity disorder). Rối loạn định dạng giới được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan, biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình, gồm 3 tiêu chuẩn chẩn đoán[131]:

  • Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đi kèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình càng giống người khác giới càng tốt (qua trang phục, đi đứng, cách cư xử, thậm chí qua phẫu thuật chuyển giới), dù các bộ phận giới tính và sinh lý cơ thể của họ hoàn toàn bình thường và không bị dị tật.
  • Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất hai năm.
  • Rối loạn này không phải là một triệu chứng của một chứng rối loạn tâm thần khác hoặc sự bất thường của nhiễm sắc thể.

Như vậy, Đồng tính luyến ái không phải là rối loạn định dạng giới. Nhưng ngược lại, Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì bệnh nhân sẽ chuyển biến thành Đồng tính luyến ái hoặc sẽ đi tiến hành chuyển đổi giới tính. Một nghiên cứu của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cũng khẳng định: 75% thiếu niên bị rối loạn định dạng giới sẽ có xu hướng đồng tính khi bước vào tuổi vị thành niên.[132]

Nhân khẩu học và tự nhiên học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê tỉ lệ người đồng tính gặp phải một số khó khăn:

  • Phải lựa chọn yếu tố nào để xác định một người là đồng tính. Số người có ham muốn quan hệ đồng giới có thể nhiều hơn số người thực hiện ham muốn đó, hoặc số người thực hiện này lại có thể nhiều hơn số người tự nhận mình là đồng tính/song tính.[133]

Số liệu về tỉ lệ người đồng tính có ý nghĩa trong việc hoạch định các chính sách chẳng hạn như xác định chi phí và phúc lợi của từng gia đình, tác động của việc hợp pháp hóa đồng tính.[133]

Tỉ lệ người hoàn toàn đồng tính trong dân chúng (ở các nước phương Tây) là từ 1% đến 10% tùy theo các nghiên cứu khác nhau, đồng tính nam nhiều hơn đồng tính nữ.[134][135][136] Ở các nước phương Đông chưa có nghiên cứu cụ thể, nhưng các ước tính tỷ lệ này có phần thấp hơn phương Tây (thường dưới 1% dân số)

Các số liệu thay đổi tùy quốc gia. Một nghiên cứu 1992 cho thấy 6,1% nam giới ở Vương quốc Anh từng có hành vi tình dục đồng tính, trong khi ở Pháp là 4,1%.[137] Theo một thống kê 2003, 12% người Na Uy từng có hành vi quan hệ tình dục đồng giới.[138] Trong một cuộc thăm dò 2008, trong khi chỉ có 6% người Anh tự nhận là đồng tính hoặc song tính, 13% người Anh đã từng có hành vi tình dục nào đó với người cùng giới.[139]

Tự nhiên học[sửa | sửa mã nguồn]

Roy và Silo, hai con chim cánh cụt đực ở vườn thú Trung tâm, New York, tương tự như trong hình, đã nổi tiếng trên thế giới khi chúng cặp đôi và được cho một trứng để ấp và nuôi con. Chúng đã thành công.[140]

Hành vi đồng tính cũng có ở nhiều loài động vật.[141] Các biểu hiện về hành vi đồng tính thật sự có ở một số loài trong thế giới động vật, đặc biệt trong các loài chim biển, động vật có vú, khỉ và các loài linh trưởng lớn. Đã có 1500 trường hợp được quan sát, trong đó có khoảng 500 trường hợp được miêu tả khá cụ thể[142][143].

Có những đôi chim cánh cụt đực coi nhau như những người bạn đời. Chúng xây tổ cùng nhau, lấy một hòn đá thay trứng để ấp. Năm 2004, ở Central Park Zoo, Mỹ, người ta đã thay một hòn đá của đôi chim cánh cụt đực bằng một quả trứng thật, kết quả là đôi chim đó đã chăm sóc quả trứng này cũng như con non nở ra như chính con của chúng. Hiện tượng này cũng được báo cáo bởi một số vườn thú khác[144][145]. Jannet Mann, giáo sư của Đại học Georgetown cho rằng, các biểu hiện đồng tính ở động vật, ít nhất là ở cá heo, là một giải pháp về tiến hóa để giảm thiểu sự xâm chiếm lãnh thổ, đặc biệt là giữa những con đực[cần dẫn nguồn].

Tuy vậy, theo nhà di truyền học Simon Levay vào năm 1996 thì: "Mặc dù hành vi tình dục đồng giới là khá phổ biến trong thế giới động vật, nhưng có vẻ là rất hiếm khi các loài vật có khuynh hướng lâu dài để tham gia vào các hành vi như vậy trong khi lại từ chối các hoạt động tình dục khác giới tính. Thiên hướng tình dục đồng tính (thuật ngữ được dùng với loài người), nếu chúng ta có thể nói về điều đó ở động vật, có vẻ là rất hiếm"[15]. Chỉ có một loài động vật (trừ loài người) được ghi nhận là có những cá thể đực chỉ giao phối đồng tính trong khi từ chối giao phối với những con cái, đó là cừu Ovis[16][17]

Đồng tính luyến ái và luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Luật pháp trên thế giới về đồng tính luyến ái

Mặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp nhiều nơi ở phương Tây, chẳng hạn như[146][147] Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 và Anh 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chế cho đến giữa những năm 70. Một bước ngoặt quan trọng là vào năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đưa đồng tính luyến ái ra khỏi Danh sách các rối loạn tâm thần.[148][149] Năm 1977, Québec tại Canada đã trở thành bang đầu tiên cấm kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục.[149] Những năm 80 và 90, nhiều nước phát triển đã hợp pháp hóa đồng tính luyến ái và cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú và dịch vụ. Tính tới cuối năm 2013, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 16 quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, 17 nước chấp nhận hình thức đăng ký sống chung. Ngược lại, có khoảng 80 nước coi hành vi đồng tính là tội phạm với các mức án phạt khác nhau (có 8 nước có mức án tử hình).

Tới năm 2013, không có quốc gia Châu Á nào công nhận hôn nhân đồng tính hoặc đăng ký sống chung. Tại Thái Lan có cộng đồng LGBT sôi nổi, nhưng điều này chỉ có ở ngành kinh doanh giải trí thu lợi nhuận vốn tách biệt với nền chính trị và xã hội Thái bảo thủ.[150] Ở những quốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm khắc chống lại người đồng tính. Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20 năm tù và bị đánh roi ở Malaysia. Ở Singapore, quan hệ tình dục đồng tính nam là bất hợp pháp tuy nhiên luật này thường không được thực thi. Năm 2003 ở Đài Loan, một dự luật được đưa ra để công nhận hôn nhân đồng tính đã không đạt đủ số phiếu để thông qua.[150]Nhật Bản, văn hóa và những tôn giáo lớn không có thái độ thù ghét những cá nhân đồng tính, nước này không có luật nào chống lại đồng tính luyến ái nhưng hôn nhân đồng tính thì không được công nhận.[151]

Ở khu vực Trung Đông vốn tập trung nhiều nước đạo Hồi, đồng tính luyến ái bị pháp luật cấm nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp luật hỗ trợ.[152] Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao nhất thế giới với 61% người dân ủng hộ.[153] Israel là nước châu Á đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận sự chung sống không đăng ký của cặp đôi đồng giới. Mặc dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới, Israel là quốc gia Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận hôn nhân đồng giới ở nước khác. Kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục bị cấm vào năm 1992. Theo một quyết định năm 2008, các cặp đồng giới cũng được quyền nhận con nuôi. Ở đây, người đồng tính được quyền công khai tham gia quân ngũ.[154][155][156][157][158][159][160][161]

Hôn nhân đồng giới[sửa | sửa mã nguồn]

Việc công nhận hôn nhân đồng tính hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng tính là thể hiện sự bình đẳng giữa con người, rằng pháp luật không nên ngăn cản việc kết hôn của con người nếu họ thực sự muốn vậy. Ngược lại, nhiều người phản đối hôn nhân đồng tính bởi lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội, đặc biệt là với trẻ em.

Từ đầu thế kỷ 21, một số nước Tây phương bắt đầu công nhận hôn nhân đồng tính. Tính đến cuối năm 2013 đã có 16 quốc gia trên thế giới công nhận, bao gồm: Anh, Argentina, Bỉ, Bồ Đào Nha, Brasil, Canada, Đan Mạch, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Nam Phi, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, và Uruguay; thêm vào đó nhiều địa phương cấp thấp hơn (bang, thành phố) ở MéxicoHoa Kỳ cũng công nhận. Tại nhiều nước phương Tây, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy ngày càng có nhiều người ủng hộ hôn nhân đồng tính[162]. Mặt khác, tại các nước Hồi giáo và các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi, các cuộc thăm dò ý kiến vẫn cho thấy người dân kịch liệt phản đối người đồng tính cũng như hôn nhân đồng tính.[163]

Các tổ chức khoa học ủng hộ hôn nhân đồng tính gồm có: Hội Tâm lý học Hoa Kỳ[164], Hội Tâm lý học Canada[165], Đoàn Bác sĩ Tâm lý Hoàng gia[166], Hội Xã hội học Hoa Kỳ[167], Hội Y khoa Hoa Kỳ[168], Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ[169], Hội Nhân loại học Hoa Kỳ[170]. Các tổ chức này cho rằng các nghiên cứu chuyên ngành của họ cho thấy hôn nhân đồng tính không tác hại đến xã hội mà còn đem lại nhiều cái lợi về mặt tinh thần và sức khỏe cho những người đồng tính cũng như con cái họ.

Các tổ chức phản đối hôn nhân đồng tính bao gồm chủ yếu là các tổ chức tôn giáo (ví dụ như Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, Tổ chức Tầm nhìn nước Mỹ, Hội đồng Nghiên cứu gia đình, Viện Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ, Tổ chức Quốc gia về hôn nhân...)[171]. Các tổ chức này tuyên bố: việc họ phản đối hôn nhân đồng tính là nhằm bảo vệ các giá trị gia đình truyền thống, bảo vệ trẻ em trước các tác động tiêu cực của hôn nhân đồng tính[172][173] Các tổ chức này cho rằng hôn nhân đồng giới sẽ làm xói mòn định nghĩa, giá trị truyền thống về hôn nhân giữa nam và nữ từ lâu nay, khiến việc sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, mục đích cơ bản nhất của hôn nhân (sinh sản và chăm sóc trẻ em) sẽ bị coi thường, tước đi quyền có được cả cha lẫn mẹ của trẻ em và điều này sẽ khiến trẻ em chịu nhiều ảnh hưởng về tâm lý và lối sống, các vấn đề này sẽ dẫn đến nhiều tác động tiêu cực cho tương lai của xã hội[174][175][176][177][178][179][180] (xem chi tiết tại Phản đối hôn nhân đồng tính).

Vấn đề con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Một cặp đồng tính nam và con nuôi

Nhiều người đồng tính, song tính có thể trở thành cha hoặc mẹ bằng nhiều cách như xin con nuôi, thụ tinh nhân tạo hoặc nhận đỡ đầu hoặc có khi có con riêng của một người với vợ hoặc chồng cũ là dị tính luyến ái, hoặc nhờ sinh con hộ.[181][182][183][184] Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, 33% cặp đồng giới nữ và 22% cặp đồng giới nam đang sống với ít nhất một người con dưới 18 tuổi.[7] Vài trẻ không biết rằng cha/mẹ của chúng là người đồng tính/song tính. Tình trạng công khai thiên hướng tình dục cũng khác nhau và vài người không bao giờ công khai với con mình.[185][186]

Người LGBT làm cha mẹ nói chung và nhận con nuôi nói riêng là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều nước phương Tây và thường được xem là cuộc chiến văn hóa giữa quan niệm bảo thủ và tự do. Tháng 1 năm 2008, Tòa án châu Âu về quyền con người tuyên bố các cặp cùng giới có quyền nhận con nuôi.[187][188] Ở Hoa Kỳ, người đồng tính/song tính có thể nhận con nuôi một cách hợp pháp ở tất cả các tiểu bang trừ Florida.[189]

Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy kết quả rằng người đồng tính cũng thích hợp và có khả năng làm cha/mẹ như người dị tính.[37][190][191] Các nghiên cứu này ghi nhận rằng không có sự liên quan giữa thiên hướng tình dục của cha/mẹ với sự điều chỉnh tình cảm, tâm lý và hành vi của đứa trẻ.[37][190][191][192], và hôn nhân sẽ nâng cao tình trạng tài chính, tâm lý, thể chất và rằng việc được nuôi dưỡng bởi một cặp được pháp luật công nhận sẽ tốt cho đứa trẻ.[37][190][192] Giáo sư Judith Stacey, Đại học New York cho rằng khoa học xã hội có sự đồng thuận cao về vấn đề con nuôi của người đồng tính, do đó Viện Nhi khoa Hoa Kỳ và các tổ chức chuyên ngành về bảo vệ trẻ em đã có những báo cáo hỗ trợ quyền nuôi con của người đồng tính.[193]

Một cuộc khảo sát của tiến sĩ Mark Regnerus năm 2012 cho kết quả rằng con nuôi của các cặp đồng tính có tỷ lệ mắc các chứng rối loạn tâm lý cao[194] đã được các tổ chức vận động chống hôn nhân đồng tính tại Hoa Kỳ coi như là bằng chứng rằng khả năng làm cha/mẹ nuôi của người đồng tính không bằng người dị tính.[195] Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng bị chỉ trích nặng nề về tính học thuật cũng như quá trình xuất bản bởi Hội Xã hội học Hoa Kỳ, tạp chí xuất bản nghiên cứu đó, cũng như trường đại học nơi Regnerus giảng dạy.[167][196][197]

Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona TaskerSusan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường[198]

Tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."

Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình". Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.[199]

Đồng tính luyến ái và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Thái độ của xã hội về đồng tính phản ánh thái độ của chính quyền và tôn giáo, đã thay đổi rất nhiều trong suốt chiều dài lịch sử cũng như bề rộng của Trái Đất, từ việc bắt mọi người đàn ông có quan hệ, đến việc chấp nhận, đến việc xem nó như một tội nhỏ bị cấm đoán qua luật pháp và tòa án, cho đến việc xem nó như là một trọng tội đáng bị xử tử.

Kỳ thị[sửa | sửa mã nguồn]

Chống kết hôn đồng giới ở Tây Ban Nha.

Trong nhiều nền văn hóa, người ta thường có thành kiến và kỳ thị người đồng tính. Người đồng tính nam được xem là ẻo lả và chạy theo mốt.[200][201][202] Tuy vậy nghiên cứu cho thấy họ có những quan hệ tình cảm lâu dài.[203] Nhiều người cho rằng người đồng tính nam thích ấu dâm và lạm dụng tình dục trẻ em hơn là người dị tính nam, các nghiên cứu cho thấy điều này không đúng.[204][205][206] Nhiều người nghĩ người đồng tính nữ là những người sắt đá như đàn ông và đôi khi căm ghét đàn ông[207] hoặc người bị ám ảnh bởi việc đấu tranh cho quyền phụ nữ[208]. Nhiều người khác thì nói rằng họ cởi mở với đồng tính, nhưng khi xem ảnh thân mật của các cặp đồng tính thì họ lại đều cảm thấy ghê sợ, cho thấy tâm lý ghê sợ đồng tính thực ra vẫn tồn tại trong những người này, trái với lời nói bên ngoài của họ.[209].

Trong nhiều trường hợp người đồng tính bị kết tội là nguyên nhân của tệ nạn xã hội. Trong thế kỷ 20, Đức quốc xã hành quyết những người đồng tính vì cho rằng họ đe dọa cho sự nam tính và làm dơ bẩn "giống nòi Aryan". Những năm 1950, hàng trăm người bị sa thải vì là đồng tính trong một chiến dịch có tên là "Nỗi sợ hoa oải hương" của McCarthyism. Tuy nhiên, nhiều nhà chính trị đã chỉ trích một cách mỉa mai ông vì có phụ tá là người đồng tính, Roy Cohm.

Vào tháng 1 năm 2001, Bộ văn hóa Ai Cập cho đốt 6.000 quyển sách thơ đồng tính thế kỷ thứ 8 của nhà thơ Ba Tư-Ả Rập Abu Nuwas để xoa dịu người Hồi giáo.[210][211]

Bạo hành đối với người đồng tính[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ, theo FBI 15,6% vụ tấn công do thù ghét được trình báo với cảnh sát là do kỳ thị đồng tính. Trong đó 61% vụ tấn công là nhằm vào người đồng tính nam.[212] Năm 1998, một sinh viên đồng tính là Mathew Shepard đã bị giết, đây là một trong những vụ tai tiếng nhất ở Mỹ.

Hiện nay đồng tính luyến ái có thể bị xử tội tử hình ở 8 nước là Iran, Mauritanie, Nigeria, Pakistan, Ả Rập Saudi, Sudan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và Yemen.[213]

Đồng tính luyến ái và tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Vài nhà thờ nhận rửa tội cho các cặp đồng giới, vài nhà thờ khác nhận tổ chức hôn lễ. Trong ảnh là dòng chữ tiếng Anh: Kết hôn là một quyền công dân.

Các tôn giáo có nhiều quan niệm khác nhau về tình yêu và tình dục đồng giới. Chống đối đồng tính luyến ái thay đổi từ ngấm ngầm can ngăn cho đến chính thức cấm đoán đồng tính luyến ái và tích cực chống lại sự chấp thuận của xã hội đối với người đồng tính.

Vài người đồng tính và song tính tìm cách giảm bớt ham muốn, tránh xa quan hệ đồng giới hoặc thay đổi thiên hướng tình dục. Họ thay đổi bằng trị liệu, thực hiện quy tắc tôn giáo hoặc tham gia vào các nhóm ex-gay (như nhóm Exodus International). Nhiều tổ chức sức khỏe và tâm thần phương Tây tin rằng thiên hướng tình dục luôn tiến triển trong suốt cuộc đời [6] và họ cũng tôn trọng sự tự quyết định của mỗi người.[124] Tuy nhiên, chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh sự hiệu quả hoặc tác hại của những phương pháp trị liệu. Các tổ chức này khuyến cáo rằng không nên cố gắng thay đổi thiên hướng tình dục vì họ lo ngại có thể có tác hại nào đó.[125] Hoạt động của các nhóm ex-gay và việc trị liệu trong trường học gây ra chống đối từ các nhóm ủng hộ đồng tính, nhưng lại được các tòa án Mỹ cho phép.[126]

Nhiều giáo hội dạy rằng nên yêu thương người đồng tính dẫu cho ham muốn tình dục của họ thế nào, nhưng họ chống lại các mối quan hệ đồng tính.[214] Sách giáo lý (Catechism) của đạo Cơ đốc cho rằng đồng tính là "hành vi đồi bại nghiêm trọng, về bản chất là rối loạn và trái với quy luật tự nhiên".[215] Giáo hội Mặc môn thì tỏ ra khoan dung hơn, họ lên án bạo hành với người đồng tính[216] và chính thức tuyên bố "giang tay đón nhận bằng sự thấu hiểu và tôn trọng" vì Thiên Chúa đã dạy phải khoan dung với mọi người[217]. Tuy vậy, họ cũng nói thêm là sẽ kiên quyết phản đối hôn nhân đồng tính vì nó sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng cho mỗi gia đình và trẻ em, rằng "hôn nhân đồng tính sẽ dẫn đến sự kết thúc của tự do tôn giáo và các tiêu chuẩn đạo đức xã hội."[218]

Các giáo hội khác đã thay đổi học thuyết để thích nghi với mối quan hệ đồng giới. Do Thái giáo cấp tiến, nhánh lớn nhất của đạo Do Thái ngoài Israel, đã tạo điều kiện cho các đám cưới đồng giới trong giáo đường.[219]

Mặt khác, Anh giáo gặp phải sự bất đồng giữa một bên là các giáo hội Anh giáo tại châu Phi (trừ vùng Nam Phi) và tại châu Á và một bên là các giáo hội Anh giáo tại Bắc Mỹ khi giáo hội Mỹ và Canada chấp nhận các giáo sĩ đồng tính và bắt đầu ủng hộ kết hợp dân sự đồng giới.

Nhiều nhóm tôn giáo lại tẩy chay các công ty có chính sách ủng hộ cộng đồng thiên hướng tình dục thiểu số. Đầu năm 2005, Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ đe dọa tẩy chay sản phẩm của Ford khi công ty này ủng hộ hôn nhân đồng giới.[220]

Đồng tính luyến ái và sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Để giảm nguy cơ lây nhiễm, nam quan hệ với nam được khuyến cáo nên:

Nếu người đồng tính nam có quan hệ tình dục với người nam khác thì thuộc nhóm hành vi nam có quan hệ tình dục với nam nên các vấn đề về sức khỏe tương tự như nhóm hành vi này. Đọc các vấn đề sức khỏe của nhóm hành vi nam có quan hệ tình dục với nam để biết thêm chi tiết. Nam quan hệ với nam không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nam, song tính luyến ái nam mà bao gồm tất cả người nam có quan hệ tình dục với nam với mọi mục đích.

Theo báo cáo tiến độ phòng, chống HIV/AIDS năm 2012, tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố Hồ Chí Minh là 16%, tỷ lệ chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy. Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có 1 người nhiễm ít nhất 1 trong các nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc chlamydia trực tràng.[223] Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác. Bên cạnh đó, các đồng tính nam thường quan niệm sai lầm rằng, chỉ có quan hệ khác giới mới bị nhiễm HIV, giang mai, mào gà... còn đồng tính thì không. Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục như một khảo sát của Ban quản lý dự án phòng chống HIV/AIDS (Việt Nam) trên 300 đồng tính nam cho thấy một số chỉ sử dụng bao cao su với bạn tình mới quen lần đầu, khi thân rồi họ không đề phòng nữa.[224]. Hơn nữa bao cao su cũng không thể đảm bảo ngăn ngừa 100% nguy cơ lây bệnh, xác suất lây nhiễm HIV dù có sử dụng bao cao su vẫn còn khoảng ~15%-33% (tùy theo các nghiên cứu khác nhau).

Tương tự, đọc nữ có quan hệ tình dục với nữ để biết thêm chi tiết. Nữ quan hệ với nữ không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nữ, song tính luyến ái nữ mà bao bồm tất cả người nữ có quan hệ tình dục với nữ.

Năm 2010, một báo cáo của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết trong số các ca nhiễm HIV mới ở Hoa Kỳ thì số ca thuộc cộng đồng nam thanh niên đồng tính trẻ tuổi cao hơn rất nhiều so với mức chung, có nhiều nguyên nhân cho việc này:

  • Tỷ lệ bị nhiễm HIV trong cộng đồng đồng tính luyến ái nam vốn cao, làm tăng khả năng lây nhiễm trong cộng đồng so với dân số thông thường.[225]
  • Các yếu tố xã hội như kỳ thị, thành kiến, phân biệt đối xử và thiếu khả năng tiếp cận hệ thống y tế đối với cộng đồng này.[225]
  • Nam giới trẻ có quan hệ đồng giới thường có các hành vi nguy cơ cao (như quan hệ tình dục với nhiều hơn 4 bạn tình, tiêm chích ma túy).[225]

Thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới[226]. Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc lưỡng tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ[227].

Hoa Kỳ hiện đang cấm nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục với nam đi hiến máu "vì họ là một nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, viêm gan B và một số bệnh nhiễm trùng khác có thể được lây truyền qua truyền máu" Vương quốc Anh và nhiều nước châu Âu đã cấm tương tự[228][229].

Một số thuật ngữ và tiếng lóng[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Straight" là người dị tính luyến ái. "Gay" người đồng tính luyến ái nam. "Lesbian" hoặc "les" người đồng tính luyến ái nữ.
  • "Bóng lộ" là người đồng tính nam ăn mặc, cử chỉ như phụ nữ. "Gay kín" là người đồng tính nam có nam tính, và mọi người khó phát hiện là gay.
  • "Fem" chỉ người đồng tính nữ có nữ tính và mọi người khó phát hiện là les. "Butch" là người đồng tính nữ có nam tính, cử chỉ điệu bộ giống đàn ông.
  • "Come out" là hành động công khai cho mọi người biết mình là người đồng tính.
  • "Trans Guy" những người sinh ra có cơ thể là con gái nhưng tự cảm thấy mình là con trai, có cử chỉ và hành động của con trai

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “Sexual Orientation and Homosexuality”, APAHelpCenter.org, truy cập 2007-09-07 
  2. ^ Case No. S147999 in the Supreme Court of the State of California, In re Marriage Cases Judicial Council Coordination Proceeding No. 4365(…)
  3. ^ Frankowski BL; American Academy of Pediatrics Committee on Adolescence (June năm 2004). “Sexual orientation and adolescents”. Pediatrics 113 (6): 1827–32. doi:10.1542/peds.113.6.1827. PMID 15173519. 
  4. ^ doi:10.1007/s10508-008-9386-1
    Hoàn thành chú thích này
  5. ^ a ă http://www.sciencedaily.com/releases/2008/06/080628205430.htm
  6. ^ a ă â b American Psychiatric Association (May năm 2000). “Gay, Lesbian and Bisexual Issues”. Association of Gay and Lesbian Psychiatrics. 
  7. ^ a ă â “Just the Facts About Sexual Orientation & Youth: A Primer for Principals, Educators and School Personnel”. American Academy of Pediatrics, American Counseling Association, American Association of School Administrators, American Federation of Teachers, American Psychological Association, American School Health Association, The Interfaith Alliance, National Association of School Psychologists, National Association of Social Workers. 1999. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007. 
  8. ^ “Same-Sex Marriage FAQ – - Gender-Neutral Marriage Laws”. About.com. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ "New Benefits for Same-Sex Couples May Be Hard to Implement Abroad". ABC News. June 22, 2009. 2009 Report on State Sponsored Homophobia (2009), published by The International Lesbian Gay Bisexual Trans and Intersex Association.
  10. ^ Science Daily: Same-Sex Behavior Seen In Nearly All Animals
  11. ^ 1,500 animal species practice homosexuality. The Medical News, 23 October 2006
  12. ^ Sommer, Volker & Paul L. Vasey (2006), Homosexual Behaviour in Animals, An Evolutionary Perspective. Cambridge University Press, Cambridge. ISBN 0-521-86446-1
  13. ^ Bagemihl 1999
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Biological_Exuberance:_Animal
  15. ^ a ă Levay, Simon (1996). Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge, Massachusetts: MIT Press. tr. 207. 
  16. ^ a ă â LeVay, Simon (1996). Queer Science: The Use and Abuse of Research into Homosexuality. Cambridge: The MIT Press ISBN 0-262-12199-9
  17. ^ a ă Animal Homosexuality: A Biosocial Perspective By Aldo Poiani, A. F. Dixson, Aldo Poiani, A. F. Dixson, p. 179, 2010, Cambridge University Press
  18. ^ Adolescence and puberty By John Bancroft, June Machover Reinisch, p.162
  19. ^ "... sow illegitimate and bastard seed in courtesans, or sterile seed in males in defiance of nature." Plato in THE LAWS (Book VIII p.841 edition of Stephanus) or p.340, edition of Penguin Books, 1972.
  20. ^ Foucault 1986
  21. ^ Hubbard Thomas K (22 tháng 9 năm 2003). “Review of David M. Halperin, How to Do the History of Homosexuality.”. Bryn Mawr Classical Review. 
  22. ^ David M. Halperin, One Hundred Years of Homosexuality, Rouledge, 1990, ISBN 978-0-415-90097-3
  23. ^ Epstein, Esteven, Gay Politics, Ethnic Identity: The Limits of Social Constructionism, Socialist Review, 1987 nos. 93/94 = 17.3-4:9-54
  24. ^ XemQueer theory.
  25. ^ The Sufis by Idries Shah (1964)
  26. ^ Shay, Anthony, The Male Dancer in the Middle East and Central Asia, truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2008 
  27. ^ Herdt, Gilbert H. (1984), Ritualized Homosexuality in Melanesia, University of California Press, tr. 128–136, ISBN 0520080963 
  28. ^ Plato, Phaedrus in the Symposium
  29. ^ Plato, Laws, 636D & 835E
  30. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, Harvard University Press, 2006, ISBN 0-674-02385-4. Trang 183.
  31. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 187
  32. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 188
  33. ^ Gilley, Brian Joseph (2006). Becoming Two-Spirit: Gay Identity and Social Acceptance in Indian Country. ISBN 0-8032-7126-3.
  34. ^ Gordon, Kathyrn H. and Yezzennya Castro. “The assessment, diagnosis, and treatment of psychiatric disorders in lesbian, gay, and bisexual clients,” in Julia D. Buckner, Yezzennya Castro, Jill M Holm-Denoma, and Thomas E Joiner Jr. (eds), Mental Health Care for People of Diverse Backgrounds. Radcliffe Publishing, 2007, p. 52. ISBN 1-84619-094-0.
  35. ^ (1995) "Out in Culture: Gay, Lesbian and Queer Essays on Popular Culture", ISBN 0-304-33488-X, 9780304334889, p.439: "Although the disco pulse was born in the small gay black clubs of New York, disco music only began to gain commercial attention when it was exposed to the dance floor public of large, predominantly white gay discos."
  36. ^ (1998) "The Cambridge History of American Music", ISBN 0-521-45429-8, 9780521454292, p.372: "Initially, disco musicians and audiences alike belonged to marginalized communities: women, gay, black, and Latinos"
  37. ^ a ă â b Case No. S147999 in the Supreme Court of the State of California, In re Marriage Cases Judicial Council Coordination Proceeding No. 4365, Application for leave to file brief amici curiae in support of the parties challenging the marriage exclusion, and brief amici curiae of the American Psychological Association, California Psychological Association, American Psychiatric Association, National Association of Social Workers, and National Association of Social Workers, California Chapter in support of the parties challenging the marriage exclusion
  38. ^ Staff report (August 12, 1998). Gay Is Okay With APA—Forum Honors Landmark 1973 Events. JAMA. 1998;280(6):497-499. doi:10.1001/jama.280.6.497.
  39. ^ a ă The Long Road to Freedom, ed. by Mark Thompson. St Martin Press 1995. ISBN 0-3121-3114-3. P 97.
  40. ^ Love Undetectable, by Andrew Sullivan, 1998, p. 107
  41. ^ http://www.slideshare.net/Heather_/america-homosexuality
  42. ^ Darlene Bogle, "Healing from Lesbianism," in Yamamoto, 15.
  43. ^ Bob Davies, "The Exodus Story: The Growth of Ex-gay Ministry," in Yamamoto, 47-59. Also, see Kent Philpott, The Gay Theology (Plainfield, NJ: Logos International, 1977), 20-37.
  44. ^ Andrew Comiskey, Pursuing Sexual Wholeness: How Jesus Heals the Homosexual (Lake Mary, FL: Creation House, 1989).
  45. ^ Joanne Highley, L.I.F.E. Ministries, P.O. Box 353, New York, NY 10185.
  46. ^ Stanton L. Jones, "Homosexuality According to Science," in J. Isamu Yamamoto, ed., The Crisis of Homosexuality (Wheaton, IL: Victor Books, 1990), p. 107
  47. ^ a ă American Psychological Association Answers to Your Questions For a Better Understanding of Sexual Orientation & Homosexuality -

    There is no consensus among scientists about the exact reasons that an individual develops a heterosexual, bisexual, gay, or lesbian orientation. Although much research has examined the possible genetic, hormonal, developmental, social, and cultural influences on sexual orientation, no findings have emerged that permit scientists to conclude that sexual orientation is determined by any particular factor or factors. Many think that nature and nurture both play complex roles; most people experience little or no sense of choice about their sexual orientation.

  48. ^ "Opposite-Sex Twins and Adolescent Same-Sex Attraction,” American Journal of Sociology Vol. 107, No. 5, (March 2002). The University of Chicago. P. 1179-1205.
  49. ^ Laumann, Edward O.; John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 0226469573, 9780226469577 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  50. ^ Laumann, Edward; Michael, Robert; Kolata, Gina (1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0446671835. 
  51. ^ Laumann, Edward O.; John H. Gagnon, Robert T. Michael, Stuart Michaels (1994). The Social Organization of Sexuality: Sexual Practices in the United States. tr. 308. ISBN 0-226-46957-3. 
  52. ^ Laumann, Edward; Michael, Robert; Kolata, Gina (1 tháng 9 năm 1995). Sex in America: A Definitive Survey. Grand Central Publishing. ISBN 978-0-446-67183-5. 
  53. ^ Lung, F.W. (2007). “Father-son attachment and sexual partner orientation in Taiwan”. Comprehensive Psychiatry 48: 20–6. doi:10.1016/j.comppsych.2006.08.001. 
  54. ^ Isay, Richard A. (1990). Being homosexual: Gay men and their development. HarperCollins. ISBN 0-380-71022-6.
  55. ^ Isay, Richard A. (1996). Becoming gay: The journey to self-acceptance. New York, Pantheon. ISBN 0-679-42159-9.
  56. ^ Holmes, William C. (2). “Sexual Abuse of Boys”. The Journal of the American Medical Association 280 (21). 
  57. ^ Tomeo, M.E.; Templer D.L. (2001). “Comparative data of childhood adolescence molestation in heterosexual and homosexual persons”. Archives of Sexual Behavior 30: 535–541. 
  58. ^ Why women are leaving men for other women
  59. ^ Blanchard, R., Cantor, J. M., Bogaert, A. F., Breedlove, S. M., & Ellis, L. (2006). "Interaction of fraternal birth order and handedness in the development of male homosexuality." Hormones and Behavior, 49, 405–414.
  60. ^ Blanchard, R., Zucker, K.J., Siegelman, M., Dickey, R. & Klassen, P. (1998). The relation of birth order to sexual orientation in men and women. Journal of Biosocial Science, 30, 511-­519.
  61. ^ Ellis, L. & Blanchard, R. (2001). Birth order, sibling sex ratio, and maternal miscarriages in homosexual and heterosexual men and women. Personality and Individual Differences, 30, 543-552.
  62. ^ Blanchard, R. (2001). Fraternal birth order and the maternal immune hypothesis of male homosexuality. Hormones and Behavior, 40, 105-114.
  63. ^ Puts, D. A., Jordan, C. L., Breedlove, M. (2006). O brother, where art thou? The fraternal birth-order effect on male sexual orientation. Proceedings of the National Academy of Sciences USA, 103, 10531-10532.
  64. ^ Cantor, J. M., Blanchard, R., Paterson, A. D., & Bogaert, A. F. (2002). How many gay men owe their sexual orientation to fraternal birth order. Archives of Sexual Behavior, 31, 63-71.
  65. ^ Bogaert, A. F. (2005) Sibling sex ratio and sexual orientation in men and women: New tests in two national probability samples. Archives of Sexual Behavior, 34, 111-116.
  66. ^ Dörner, G., Rohde, W., Stahl, F., Krell, L., & Masius, W.-G. (1975). A neuroendocrine predisposition for homosexuality in men. Archives of Sexual Behavior, 4, 1–8.
  67. ^ Ellis & Ames (1987). Neurohormonal functioning and sexual orientation: A theory of homosexuality-heterosexuality. Psychological Bulletin, 101, 233–258.
  68. ^ http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121215/tai-sao-nguoi-ta-dong-tinh.aspx
  69. ^ Dörner, G., Geier, T., Ahrens, L., Krell, L., Münx, G., Sieler, H., Kittner, E., & Müller, H. (1980). Prenatal stress as possible aetiogenetic factor of homosexuality in human males. Endokrinologie, 75, 365–368.
  70. ^ Dörner, G., Schenk, B., Schmiedel, B., & Ahrens, L. (1983). Stressful events in prenatal life and bi- and homosexual men. Experimental and Clinical Endocrinology, 31, 83–87.
  71. ^ Ellis, L., & Cole-Harding, S. (2001). The effects of prenatal stress, and of prenatal alcohol and nicotine exposure, on human sexual orientation. Physiology and Behavior, 74, 213–226.
  72. ^ Sexual Orientation and Adolescents, American Academy of Pediatrics Clinical Report. Retrieved 2007-02-23.
  73. ^ Investigators ACSF (1992). “AIDS and sexual behaviour in France”. Nature 360 (6403): 407–409. doi:10.1038/360407a0. PMID 1448162. 
  74. ^ Billy JO, Tanfer K, Grady WR, Klepinger DH (1993). “The sexual behavior of men in the United States”. Family Planning Perspectives 25 (2): 52–60. doi:10.2307/2136206. JSTOR 2136206. PMID 8491287. 
  75. ^ Binson, Diane; Michaels, Stuart; Stall, Ron; Coates, Thomas J.; Gagnon, John H.; Catania, Joseph A. (1995). “Prevalence and Social Distribution of Men Who Have Sex with Men: United States and Its Urban Centers”. The Journal of Sex Research 32 (3): 245–54. doi:10.1080/00224499509551795. JSTOR 3812794. 
  76. ^ Bogaert AF (September năm 2004). “The prevalence of male homosexuality: the effect of fraternal birth order and variations in family size”. Journal of Theoretical Biology 230 (1): 33–7. doi:10.1016/j.jtbi.2004.04.035. PMID 15275997.  Bogaert argues that: "The prevalence of male homosexuality is debated. One widely reported early estimate was 10% (e.g., Marmor, 1980; Voeller, 1990). Some recent data provided support for this estimate (Bagley and Tremblay, 1998), but most recent large national samples suggest that the prevalence of male homosexuality in modern western societies, including the United States, is lower than this early estimate (e.g., 1–2% in Billy et al., 1993; 2–3% in Laumann et al., 1994; 6% in Sell et al., 1995; 1–3% in Wellings et al., 1994). It is of note, however, that homosexuality is defined in different ways in these studies. For example, some use same-sex behavior and not same-sex attraction as the operational definition of homosexuality (e.g., Billy et al., 1993); many sex researchers (e.g., Bailey et al., 2000; Bogaert, 2003; Money, 1988; Zucker and Bradley, 1995) now emphasize attraction over overt behavior in conceptualizing sexual orientation." (p. 33) Also: "...the prevalence of male homosexuality (in particular, same-sex attraction) varies over time and across societies (and hence is a "moving target") in part because of two effects: (1) variations in fertility rate or family size; and (2) the fraternal birth order effect. Thus, even if accurately measured in one country at one time, the rate of male homosexuality is subject to change and is not generalizable over time or across societies." (p. 33)
  77. ^ Fay RE, Turner CF, Klassen AD, Gagnon JH (January năm 1989). “Prevalence and patterns of same-gender sexual contact among men”. Science 243 (4889): 338–48. doi:10.1126/science.2911744. PMID 2911744. 
  78. ^ Johnson AM, Wadsworth J, Wellings K, Bradshaw S, Field J (December năm 1992). “Sexual lifestyles and HIV risk”. Nature 360 (6403): 410–2. doi:10.1038/360410a0. PMID 1448163. 
  79. ^ Sell RL, Wells JA, Wypij D (June năm 1995). “The prevalence of homosexual behavior and attraction in the United States, the United Kingdom and France: results of national population-based samples”. Archives of Sexual Behavior 24 (3): 235–48. doi:10.1007/BF01541598. PMID 7611844. 
  80. ^ AVJonathan Tisdall  . “Norway world leader in casual sex, Aftenposten”. Aftenposten.no. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. [liên kết hỏng]
  81. ^ http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2004-12/02/content_396559.htm
  82. ^ http://www.anninhthudo.vn/Loi-song/Loai-thuoc-nao-cho-nguoi-dong-tinh/424635.antd
  83. ^ “ARQ2: Question A2 – Sexual Orientation”. Centre for Addiction and Mental Health. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007. 
  84. ^ Diamond, Lisa M. (January năm 2008). Female bisexuality from adolescence to adulthood: Results from a 10-year longitudinal study (PDF) 44 (1). Developmental Psychology. tr. 5–14. 
  85. ^ “Bisexual women – new research findings”. Women's Health News. 17 tháng 1 năm 2008. 
  86. ^ My Genes Made Me Do It! - Homosexuality and the scientific evidence. Neil and Briar Whitehead. Huntington House Publishing (March 1999). ISBN 978-1563841651. Trang 258
  87. ^ Ponticelli, C. M. (1999). Crafting stories of sexual identity reconstruction. Social Psychology Quarterly, 62, 157–172.
  88. ^ Erzen, T. (2006). Straight to Jesus: Sexual and Christian conversions in the ex-gay movement. Los Angeles: University of California Press.
  89. ^ Thumma, S. (1991). Negotiating a religious identity: The case of the gay evangelical. Sociological Analysis, 52, 333–347.
  90. ^ Kerr, R. A. (1997). The experience of integrating gay identity with evangelical Christian faith. Dissertation Abstracts International, 58(09), 5124B. (UMI No. 9810055).
  91. ^ A New Therapy on Faith and Sexual Identity: Psychological Association Revises Treatment Guidelines to Allow Counselors to Help Clients Reject Their Same-Sex Attractions
  92. ^ a ă The "Trojan Couch": How the Mental Health Associations Misrepresent Science. Jeffrey B. Satinover, National Association for Research and Therapy of Homosexuality publíshing 2004. P 22-25. Trích: one hasn’t actually tracked a specific group of individuals over time, checking periodically on their sexual orientations, but, instead, assessed people of different ages, taking a snapshot in time, then indeed, one can legitimately argue that any changes that correlate with age might have nothing to do with individual development, but instead are caused by the changing culture. Thus, the process of mutability over time that the authors implicitly point to is taking place not so much in the individual as collectively; in this view, “sexual orientation” is not so much a true characteristic of an individual (like height, weight, sex, or e ven stable, measurable personality traits – recall Laumann et al.’s warning that homosexuality is neither easily measurable nor stable), but rather a collective trend or fashion that waxes or wanes with the times...
    Common sense tells us that there is nothing to prevent both processes from occurring at the same time and affecting each other, especially since “the culture” is simply another way of talking about what many interpenetrating cohorts composed of people do. But until such time as a great many carefully designed explicit longitudinal studies are performed, we will be unable to tease out the exact contribution of personal maturation from external cultural fashion in the dramatic decrease over time that is universally confirmed in the prevalence of homosexuality... Furthermore, the extent to which it does or does not do so, shows clear evidence of being directly influenced by “demographics,” and “the environment,” even the era one lives in—and no evidence of being directly influenced by genes. To the extent one may be specific about the nature of th is “environment,” all evidence points towards early and continuing sexual activity and later cultural... But the reality is that since 1994—for ten years—there has existed solid epidemiologic evidence, now extensively confirmed and reconfirmed, that the most common natural course for a young person who develops a “homosexual identity” is for it to sponta neously disappear unless that process is discouraged or interfered with by extraneous factors.
  93. ^ Jorm, AF, Dear, KB, Rogers, B, Christensen, H. Cohort difference in sexual orientation: results from a large age-stratified population sample. Gerontology. 2003 Nov-Dec; 49(6)392-5
  94. ^ Same -sex attraction in a birth cohort: prevalence and ersistence in early adulthood. Nigel Dickson, Charlotte Paul, Peter HerbisonSocial. Science & Medicine 56 (2003), p 1607–1615. Trích: Between age 21 and 26, slightly more men moved away from an exclusive heterosexual attraction (1.9% of all men) than moved towards it (1.0%). These findings show that much same-sex attraction is not exclusive and is unstable in early adulthood, especially among women. The proportion of women reporting some same -sex attraction in New Zealand is high compared both to men, and to women in the UK and US. These observations, along with the variation with education, are consistent with alarge role for the social environment”
  95. ^ Robinson, B. A. (2010). “Divergent beliefs about the nature of homosexuality”. Religious Tolerance.org. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011. 
  96. ^ a ă “"Therapies" to change sexual orientation lack medical justification and threaten health”. Pan American Health Organization. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2012.  archived here.
  97. ^ http://thinkprogress.org/lgbt/2012/07/17/536311/liberty-counsel-scouts-need-protected-from-homosexual-pressures-and-predators/
  98. ^ Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk. Mathew D. Staver. B&H Group Publishing 2004. ISBN 978-0-8054-3196-4. P. 12
  99. ^ Paul Van de Ven, Pamela Rodden, June Crawford, Susan Kippax. A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men. The Journal of Sex Research, Vol. 34, No. 4, 1997, tr. 349-360
  100. ^ Meyer-Balburg H. Exner, T.,Lorenz G., Gruen, R., Gorman, J, Ehrhardt, A (1991) Sexual Risk Behavior, Sexual Functioning and HIV-Disease Progression in Gay Men Journal of Sex Research. 28, 1: 3-27
  101. ^ a ă Fethers K et al. Sexually transmitted infections and risk behaviours in women who have sex with women. Sexually Transmitted Infections 2000; 76: 345-9.
  102. ^ L. Fifield, J. Latham and C. Phillips, “Alcoholism in the Gay Community: The Price of Alienation, Isolation, and Oppression,” A Project of the Gay Community Service Center, Los Angeles
  103. ^ J. H. Lowinson, et al., Substance Abuse: A Comprehensive Textbook, 3d ed. (Baltimore, MD: Williams & Wilkins, 1997)[cần số trang]
  104. ^ "Dr. Rick Fitzgibbons is the director of the Institute for Marital Healing outside Philadelphia..." http://www.maritalhealing.com/practice/staff/staffprofiles.php
  105. ^ Gonsiorek, J.C. Homosexuality: Research Implications for Public Policy. The empirical basis for the demise of the illness model of homosexuality. Sage 1991, 115-136
  106. ^ Neil Whitehead. My Gene made me do it! - A Scientific Look At Sexual Orientation. Huntington House Publishers, Layfayette, Lousiana 1999. P 233
  107. ^ a ă APA Help Center
  108. ^ What is Nature
  109. ^ Relationship Satisfaction and Commitment
  110. ^ Duffy, S.M/; C.E. Rusbult (1985). “Satisfaction and commitment in homosexual and heterosexual relationships”. Journal of Homosexuality 12 (2): 1–23. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
  111. ^ Charlotte, Baccman; Per Folkesson, Torsten Norlander (1999). “Expectations of romantic relationships: A comparison between homosexual and heterosexual men with regard to Baxter's criteria”. Social Behavior and Personality. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
  112. ^ APA - What is Nature
  113. ^ Gunnar Andersson, “Divorce-Risk Patterns in Same-Sex Marriages in Norway and Sweden”2004.
  114. ^ Adrian Brune, "City Gays Skip Long-term Relationships: Study Says," Washington Blade (February 27, 04): 12.
  115. ^ The Contribution of Steady and Casual Partnerships to the Incidence of HIV Infection among Homosexual Men in Amsterdam," AIDS 17 (2003): 1031.
  116. ^ [M. Pollak, "Male Homosexuality," in Western Sexuality: Practice and Precept in Past and Present Times, ed. P. Aries and A. Bejin, translated by Anthony Forster (New York, NY: B. Blackwell, 1985): 40-61 http://www.frc.org/get.cfm?i=IS04C02]
  117. ^ Ryan Lee, "Gay Couples Likely to Try Non-monogamy, Study Shows," Washington Blade (August 22, 2003): 18
  118. ^ A Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men,” Journal of Sex Research 34 (1997): 354
  119. ^ Comparative Demographic and Sexual Profile of Older Homosexually Active Men," Journal of Sex Research 34, 1997. P 354
  120. ^ "Money, Housework, Sex, and Conflict: Same-Sex Couples in Civil Unions, Those Not in Civil Unions, and Heterosexual Married Siblings Sondra E. Solomon". Esther D. Sex Roles, Vol. 52, Nos. 9/10, 2005. DOI: 10.1007/s11199-005-3725-7. P 569
  121. ^ HOMOSEXUAL PARENTING: PLACING CHILDREN AT RISK (Part II of III)
  122. ^ “Just the Facts about Sexual Orientation and Youth”. American Psychological Association. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2013. 
  123. ^ a ă â Associated Press (5 tháng 8 năm 2009). “Psychologists Reject Gay ‘Therapy’”. The New York Times. 
  124. ^ a ă “What about therapy intended to change sexual orientation from gay to straight?”. American Psychological Association. 2008. 
  125. ^ a ă American Psychiatric Association (2008). “JUST THE FACTS ABOUT Sexual Orientation and Youth” (PDF). The Just the Facts Coalition. 
  126. ^ a ă “Flier About 'Ex-Gays' Ignites Firestorm At School”. NBC. 11 tháng 11 năm 2006. 
  127. ^ Josh Levs (2 tháng 10 năm 2012). “California governor OKs ban on gay conversion therapy, calling it 'quackery'”. CNN. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2013. 
  128. ^ Jeffrey Satinover, M.D. Homosexuality and the Politics of Truth, Baker Books, Grand Rapids, Michigan, 1996. ISBN 978-1-4412-1293-1. P. 186
  129. ^ Warren Throckmorton, "Initial Empirical and Clinical Findings Concerning the Change Process for Ex-gays;" Psychotherapy: Theory/Research/Practice/Training, Vol. 39, No. 1, p. 66-75
  130. ^ http://www.psychologytoday.com/conditions/gender-identity-disorder
  131. ^ “Gender identity disorder in adolescence and adulthood”. ICD10Data.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  132. ^ The American Psychiatric Publishing textbook of psychiatry. Robert Ernest Hales, Stuart C. Yudofsky, Glen O. Gabbard. American Psychiatric Publishing 2008. ISBN 978-1-58562-257-3. P 1475
  133. ^ a ă "Demographics of the Gay and Lesbian Population in the United States: Evidence from Available Systematic Data Sources", Dan Black, Gary Gates, Seth Sanders, Lowell Taylor, Demography, Vol. 37, No. 2 (May, 2000), pp. 139-154 (available on JSTOR).
  134. ^ S. Hite, The Hite Report on Male Sexuality, New York, A. Knopf, 1991.
  135. ^ S. S. et C. L. Janus, The Janus Report on Sexual Behavior, New York, John Wiley & Sons, 1993.
  136. ^ Alfred C. Kinsey, Sexual Behavior in the Human Male, 1948, ISBN 0-7216-5445-2(o.p.), ISBN 0-253-33412-8(reprint).
  137. ^ TERESA L. WAITE, December 8, 1992 "Sexual Behavior Levels Compared in Studies In Britain and France" in the New York Times[1]
  138. ^ http://www.aftenposten.no/english/local/article633160.ece
  139. ^ http://www.guardian.co.uk/lifeandstyle/2008/oct/26/relationships
  140. ^ Smith, Dinitia (February 7 2004). “Love That Dare Not Squeak Its Name”. New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2007. 
  141. ^ Harrold, Max (16 tháng 2 năm 1999). “Biological Exuberance: Animal Homosexuality and Natural Diversity”. The Advocate, reprinted in Highbeam Encyclopedia. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2007. 
  142. ^ Oslo gay animal show draws crowds, BBC News, 2006-10-19. Retrieved 2006-10-19
  143. ^ The Gay Animal Kingdom
  144. ^ Smith, Datitia. (2004-02-07). "Central Park Zoo's gay penguins ignite debate". San Francisco Chronicle. Retrieved on 2007-09-08.
  145. ^ 'Tình yêu đồng giới' phổ biến trong thế giới động vật
  146. ^ http://typo3.lsvd.de/fileadmin/pics/Dokumente/Homosexualitaet/World_legal_wrap_up_survey._November2006.pdf LGBT world legal wrap up survey
  147. ^ http://bama.ua.edu/~safezone/timeline.pdf LGBTQ Timeline
  148. ^ http://www.psychiatryonline.com/DSMPDF/DSM-II_Homosexuality_Revision.pdf Homosexuality and Sexual Orientation Disturbance: Proposed Change in DSM-II, 6th Printing, page 44 POSITION STATEMENT (RETIRED)
  149. ^ a ă http://www.thefreelibrary.com/A+timeline+of+the+homosexual+%22rights%22+juggernaut-a0148718294 A timeline of the homosexual "rights" juggernaut.
  150. ^ a ă Unlikely Vietnam considers same-sex marriage
  151. ^ [Japan and Sexual Minorities http://www.hurights.or.jp/archives/focus/section2/2008/06/japan-and-sexual-minorities.html]
  152. ^ “The five most improved places for gay tolerance”. The Independent (London). 17 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. “Israel is the only Middle-Eastern country to support gay rights legislation, and the country attracts gay people from Palestine and Lebanon.” 
  153. ^ “Three-in-Five Israelis Back Same-Sex Marriage”. Angus Reid Public Opinion. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  154. ^ http://www.independent.co.uk/life-style/love-sex/taboo-tolerance/the-five-most-improved-places-for-gay-tolerance-932635.html
  155. ^ http://www.angusreidglobal.com/
  156. ^ "The world's most gay-friendly places". Calgary Herald. Jun 29, 2011.
  157. ^ http://tmagazine.blogs.nytimes.com/2010/07/02/dispatch-gay-tel-aviv/?_r=0
  158. ^ James Kirchick. "Was Arafat Gay?". Out.
  159. ^ http://www.jpost.com/LifeStyle/Tel-Aviv-named-worlds-best-gay-city-for-2011
  160. ^ http://www.haaretz.com/news/two-killed-in-shooting-at-tel-aviv-gay-center-1.281193
  161. ^ http://www.sizedoesntmatter.com/history/israels-monument-to-gays-persecuted-by-nazis-planned-for-tel-aviv/
  162. ^ Xem
  163. ^ “The Global Divide on Homosexuality Greater Acceptance in More Secular and Affluent Countries”. Pew Research Global Attitudes Project. 4 tháng 6 năm 2013.  Đã bỏ qua văn bản “urhttp://www.pewglobal.org/2013/06/04/the-global-divide-on-homosexuality/” (trợ giúp);
  164. ^ American Psychological Association (2004). “Resolution on Sexual Orientation and Marriage”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  165. ^ “Marriage of Same-Sex Couples  – 2006 Position Statement”. Canadian Psychological Association. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  166. ^ Royal College of Psychiatrists. “Royal College of Psychiatrists' Position Statement on Sexual Orientation”. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  167. ^ a ă American Sociological Association. “American Sociological Association Member Resolution on Proposed U.S. Constitutional Amendment Regarding Marriage”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  168. ^ American Medical Association. “AMA Policies on GLBT Issues”. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  169. ^ doi:10.1542/peds.2006-1279
    Hoàn thành chú thích này
  170. ^ American Anthropological Association (2005). “Statement on Marriage and the Family from the American Anthropological Association”. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  171. ^ “18 Anti-Gay Groups and Their Propaganda”. Southern Poverty Law Center. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014. 
  172. ^ http://www.afa.net/faq.aspx?id=2147483680
  173. ^ http://www.advocate.com/parenting/2013/10/04/national-organization-marriage-caught-helping-russia-pass-antigay-laws
  174. ^ “Religious Groups’ Official Positions on Same-Sex Marriage”. Pew Research Religion and Public Life Project. 7 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  175. ^ http://www.ncregister.com/site/article/sowing-dissent-on-marriage/. Trích: Thomas Peters, giám đốc văn hóa tại Cơ Quan Hôn Nhân Quốc Gia Hoa Kỳ, cho rằng công nhận hôn nhân đồng tính sẽ làm hôn nhân suy yếu. Sau khi hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa ở Tây Ban Nha năm 2005, tỷ lệ hôn nhân giảm sút thê thảm. Điều này cũng xảy ra cho Hà Lan. Tái định nghĩa hôn nhân sẽ làm lu mờ ý nghĩa và mục đích cơ bản của nó, do đó, khuyến khích mọi người coi thường nó. Thứ hai, điều ấy cũng ảnh hưởng tới việc giáo dục và bổn phận làm cha mẹ. Sau khi hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa ở Canada, Hội Đồng Học Đường Toronto đã cho thi hành một học trình để cổ vũ đồng tính luyến ái và xuất bản các bích chương tuyên truyền rằng đồng tính và dị tính đều như nhau. Bất chấp các chống đối của phụ huynh, Hội Đồng vẫn qui định rằng họ không có quyền di chuyển con em họ ra khỏi các lớp dạy những chuyện vừa kể. Sự kiện đó và các sự kiện tương tự cho thấy điều này: khi hôn nhân bị tái định nghĩa, định nghĩa mới sẽ được áp đặt lên trẻ em, bất chấp ý muốn của phụ huynh các em:
    "Một khi bạn đã cắt lìa định chế hôn nhân khỏi gốc rễ sinh học của nó, thì chẳng còn bao nhiêu lý lẽ để chặn đứng việc tái định nghĩa nó cho phù hợp với đòi hỏi của các nhóm quyền lợi khác nhau. Đó không phải chỉ là chuyện doạ nạt mơ hồ hay một thứ giả thuyết khiến người ta sợ sệt. Các hậu quả phụ này đã xuất hiện tại nhiều quốc gia đã hợp pháp hôn nhân đồng tính. Thí dụ, tại BrasilHà Lan, các quan hệ tay ba (một chồng hai vợ) gần đây đã được coi là hôn nhân đầy đủ. Sau khi hôn nhân bị tái định nghĩa ở Canada, một người đàn ông đa thê đã phát động một chiến dịch đòi luật pháp thừa nhận chế độ quần hôn. Ngay ở Mỹ, bang California cũng đã thông qua một dự luật để hợp pháp hóa các gia đình gồm tới ba hay bốn cha mẹ. Sinh sản là lý do chính đòi hôn nhân dân sự phải được giới hạn giữa hai người. Khi tình yêu tính dục thay thế cho trẻ em làm mục đích chính của hôn nhân, thì các giới hạn hôn nhân đâu còn nghĩa lý gì với thế hệ tương lai của loài người nữa"
  176. ^ Reasoning with the Unreasonable: 23 Controversial Essays on Current Tragedies of Ignoring Foundational Principals. Richard Kay. Author House, 2008. ISBN 978-1-4343-7159-1. P 201-202. Trích tiến sỹ Richard Kay: Chúng ta có thể thấy hệ quả của hôn nhân đồng tính ở các nước Bắc Âu. Ở Na Uy, đã hợp pháp hôn nhân đồng tính kể từ đầu thập niên 1990. Thống kê năm 2000 tại Nordland, quận tự do nhất của Na Uy cho thấy: tỷ lệ con ngoài giá thú (không rõ tên cha) đã tăng vọt tới 80% trong số những phụ nữ sinh con lần đầu tiên, tổng cộng khoảng 70% trẻ em là con ngoài giá thú! Trên toàn Na Uy, số trẻ em ngoài giá thú đã tăng khoảng 50% trong thập kỷ đầu tiên của hôn nhân đồng tính.
  177. ^ Future of Marriage. David Blankenhorn. Encounter Books Publishing 2009. ISBN 978-1-594032-41-7. P 178. Trích tiến sỹ David Blankenhorn:
    Xuyên suốt lịch sử và mọi nền văn hóa... ý tưởng cơ bản nhất của hôn nhân là mọi trẻ em đều cần một người mẹ và một người cha. Thay đổi luật để chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ phá vỡ nguyên tắc này trong nền văn hóa và pháp luật... Luật pháp là một giáo viên tuyệt vời, và nếu những người ủng hộ hôn nhân đồng tính thành công, trẻ em sẽ bị trục xuất khỏi bài học về hôn nhân. Chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ khiến cho các thế hệ tương lai nghĩ rằng hôn nhân không phải là vì trẻ em mà chỉ vì sự gắn kết quan hệ. Khi hôn nhân không còn gì nhiều hơn sự gắn kết quan hệ, ít người sẽ kết hôn để có con... Người dân vẫn sẽ sinh con, tất nhiên, nhưng rất nhiều trong số trẻ em là con ngoài giá thú. Đó là một thảm họa cho tất cả mọi người. Trẻ em bị tổn thương vì thiếu sự nuôi nấng của cha hoặc mẹ. Xã hội bị tổn thương vì sẽ bắt đầu một chuỗi các tác động tiêu cực dẫn đến nghèo đói, tội phạm, các chi phí phúc lợi cao hơn dẫn đến bộ máy nhà nước phình to hơn, thuế cao hơn, và một nền kinh tế trì trệ hơn.
  178. ^ Stanley Kurtz, “The End of Marriage in Scandinavia: The ‘conservative case’ for same-sex marriage collapses,” The Weekly Standard 9, No. 20 (February 2, 2004): 26-33. Trích::Chấp nhận hôn nhân đồng tính đã làm suy yếu thể chế hôn nhân ở Bắc Âu. Nếu như ở Na Uy, hôn nhân đồng tính đã được áp đặt bởi một văn hóa xã hội tự do, nó sẽ có khả năng tăng tốc độ của chúng ta trên con đường hướng tới tình hình tại Bắc Âu: hôn nhân truyền thống hiếm hoi hơn, sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, và tan vỡ gia đình tăng vọt. Trong bối cảnh nước Mỹ, điều này sẽ là một thảm họa.
    :Khi chúng ta nhìn vào Nordland và Nord-Troendelag, Vermont tại Na Uy - chúng ta có thể đang nhìn vào tương lai của hôn nhân trong một thế giới mà hôn nhân đồng tính được chấp nhận gần như hoàn toàn. Những gì chúng ta thấy là một nơi mà hôn nhân đã gần như hoàn toàn biến mất. Hôn nhân đồng tính ở Bắc Âu đã thúc đẩy ý nghĩ rằng hôn nhân là một hình thức lỗi thời, và rằng mọi hình thức gia đình, bao gồm cả cha mẹ ngoài giá thú, là có thể chấp nhận được. Không chỉ Na Uy, Blankenhorn báo cáo xu hướng này tương tự ở các nước khác. Các cuộc điều tra quốc tế cho thấy rằng chấp nhận hôn nhân đồng tính và sự xói mòn của hôn nhân truyền thống có xu hướng song hành với nhau. Truyền thống hôn nhân là tàn lụi nhất ở bất cứ nơi nào hôn nhân đồng tính là hợp pháp.
    :Người ta có thể tin tưởng vào hôn nhân đồng tính. Người ta có thể tin rằng mọi trẻ em đều xứng đáng có một người mẹ và một người cha. Nhưng người ta không thể tin vào cả hai. Vâng, nếu hôn nhân không phải là vì trẻ em, vậy thứ gì là vì trẻ em? Trái ngược với những gì các nhà hoạt động đồng tính hô hào, nhà nước không xác nhận quyền kết hôn chỉ vì mọi người có tình cảm với nhau. Nhà nước công nhận hôn nhân chủ yếu là vì lợi ích của hôn nhân cho trẻ em và xã hội (nếu không, chúng ta sẽ phải công nhận cả hôn nhân cận huyết hoặc chế độ đa thê). Xã hội không nhận được lợi ích gì từ hôn nhân đồng tính. Tương lai của trẻ em và một xã hội văn minh phụ thuộc vào hôn nhân bền vững giữa nam và nữ. Đó là lý do tại sao, bất kể những gì bạn nghĩ về đồng tính luyến ái, hai loại quan hệ không bao giờ nên được coi là tương đương về pháp lý.
  179. ^ Dana Mack, "Now What for Marriage?," www.wsj.com, Aug. 6, 2010. Trích: Dana Mack dẫn lời Bronisław Malinowski, nhà nhân chủng học vĩ đại nhất thế kỷ 20, rằng lợi ích chủ chốt trong hôn nhân là sự sắp xếp tương lai cho trẻ em, cho phép hôn nhân đồng tính sẽ làm chuyển đổi mục đích của hôn nhân: từ nghĩa vụ sinh đẻ và nuôi dưỡng trẻ em trở thành một dạng hợp đồng hôn nhân thể hiện ham muốn ích kỷ của người lớn
  180. ^ http://gaymarriage.procon.org/view.source.php?sourceID=010651 Love Isn’t Enough: 5 Reasons Why Same-Sex Marriage Will Harm Children. Trích: Tiến sĩ tâm lý học Trayce Hansen thì cho rằng: "Tất cả các nghiên cứu từ bốn quốc gia khác nhau, với mẫu thống kê lớn, cho thấy rằng hành vi tình dục đồng giới không phải là cố định về mặt di truyền. Thay vào đó, các dữ liệu cho thấy rằng hành vi tình dục của con người là dễ biến đổi, và môi trường xã hội có thể tác động vào nó... Chuẩn mực văn hóa và xã hội, cũng như các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến hành vi của con người bao gồm cả hành vi tình dục. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên, khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác trở nên ngày càng ủng hộ người đồng tính - cả về xã hội, chính trị, và luật pháp; thì họ lại gặp phải xu hướng ngày càng tăng về số lượng của các cá nhân tham gia vào hành vi đồng tính. Xu hướng này sẽ tiếp tục nếu chúng ta khoan dung quá mức đối với đồng tính và chính thức tôn vinh nó bằng cách hợp thức hóa hôn nhân đồng tính... Trayce Hansen khẳng định: hôn nhân đồng giới thực sự không tốt cho trẻ em. Nhà tâm lý học đã viện dẫn các luận chứng, luận cứ chứng minh rằng môi trường lý tưởng nhất cho sự phát triển của trẻ em là một gia đình có cha và mẹ theo đúng nghĩa. Ông nói:
    “Hai người phụ nữ có thể là người mẹ tốt nhưng không ai có thể là một người cha hoàn hảo”. Cha và mẹ, mỗi người một giới tính sẽ giúp cho trẻ em có cái nhìn toàn diện hơn về giới tính của bản thân, từ đó có suy nghĩ và hành động lành mạnh và cân bằng trong các mối quan hệ sau này, đó là điều được nhân loại đúc rút qua 5.000 năm. Hôn nhân đồng tính sẽ làm cho trẻ em bối rối về biểu hiện giới tính và vô tình khuyến khích những hành vi không đúng về giới tính ở trẻ vị thành niên. Mặc dù đồng cảm với những người đồng tính nhưng không nên vì sự đồng cảm đó mà biến trẻ em thành "chuột bạch" để rồi gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội. Nếu so sánh giữa được và mất, giữa nhu cầu của người đồng tính và trẻ em thì chúng ta không thể để trẻ em là người chịu thiệt thòi. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội về lâu dài
  181. ^ Butler, Katy (7 tháng 3 năm 2006). “Many Couples Must Negotiate Terms of 'Brokeback' Marriages”. New York Times. 
  182. ^ The Married Lesbian
  183. ^ Gay fathers in straight marriages
  184. ^ Bozett, Frederick W. “The Heterosexually Married Gay and Lesbian Parent”. Gay and Lesbian Parents. tr. 138. 
  185. ^ Helping gay fathers come out to their children
  186. ^ A Family Matter: When a Spouse Comes Out as Gay, Lesbian, or Bisexual
  187. ^ EMRK is for the LGBT adoption
  188. ^ Euronews: Gleichgeschlechtliche Adoptiveltern - Gerichtshof rügt Frankreich (german)[liên kết hỏng]
  189. ^ “Adoption Laws: State by State”. Human Rights Campaign. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  190. ^ a ă â Canadian Psychological Association: Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association
  191. ^ a ă Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families - A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society
  192. ^ a ă Pawelski, James G., Perrin, Ellen C., Foy, Jane M., Allen, Carole E., Crawford, James E., Del Monte, Mark, Kaufman, Miriam, Klein, Jonathan D., Smith, Karen, Springer, Sarah, Tanner, J. Lane, Vickers, Dennis L. The Effects of Marriage, Civil Union, and Domestic Partnership Laws on the Health and Well-being of Children Pediatrics 2006 118: 349–364; available online: http://pediatrics.aappublications.org/cgi/content/full/118/1/349
  193. ^ cited in Cooper & Cates, 2006, p. 36; citation available on http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf
  194. ^ How different are the adult children of parents who have same-sex relationships? Findings from the New Family Structures Study. Mark Regerus. Social Science Research, 12/3/2012
  195. ^ Andrew J. Perrin, Philipp N. Cohen, và Neal Carren (2013). “RESPONDING TO THE REGNERUS STUDY Are Children of Parents Who Had Same-Sex Relationships Disadvantaged? A Scientific Evaluation of the No-Differences Hypothesis”. Journal of Gay & Lesbian Mental Health (Routeledge) (17): 327–336. 
  196. ^ “Statement from the Chair Regarding Professor Regnerus”. Đại học Texas tại Austin. 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  197. ^ Nathaniel Frank (4 tháng 3 năm 2014). “The Shamelessness of Professor Mark Regnerus”. Slate. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  198. ^ Growing up in a lesbian family: effects on child development. Fiona L. Tasker, Susan Golombok. Guilford Press, 1997. ISBN 1-57230-412-X. P 111
  199. ^ Stacy, J. & Biblarz, T. J. (2001). Does sexual orientation of parents matter? American Sociological Review, 66 (2), p. 171.
  200. ^ Mackenzie, Ian (2004-03-18). “Dunk the faggot: A gay radio voice, back from hell”. Xtra!. 
  201. ^ Stuever, Hank (2003-04-19). “Dishy Delight: Steven Cojocaru, a Glamour Boy in TV's Post-Gay Embrace”. The Washington Post. 
  202. ^ Marech, Rona (2004-02-27). “Gay couples can be as stable as straights, evidence suggests”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2007. 
  203. ^ Jay, Karla; Young, Allen (1979). The gay report: Lesbians and gay men speak out about sexual experiences and lifestyles. New York: Summit. ISBN 0671400134. 
  204. ^ Buchanan, Wyatt (2006-10-07). “Foley incident stirs up a stereotype about gay men”. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2007. 
  205. ^ Marshall WL, Barbaree HE, Butt J (1988). “Sexual offenders against male children: sexual preferences”. Behav Res Ther 26 (5): 383–91. doi:10.1016/0005-7967(88)90071-X. PMID 3190647. 
  206. ^ Freund et al. (1989). Heterosexuality, homosexuality, and erotic age preference. Journal of Sex Research, 26, 107-117.
  207. ^ “Facts About Gay and Lesbian Victims”. Crime Victim Services. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2007. 
  208. ^ “Feminism? You want feminism?”. FathersForLife.org. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2007. 
  209. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/10/121024_viet_gay_exhibition.shtml
  210. ^ Al-Hayat, January 13, 2001
  211. ^ Middle East Report, 219 Summer 2001
  212. ^ “Crime in the United States 2004: Hate Crime”, FBI, truy cập 2007-05-04 
  213. ^ Ottosson, Daniel (tháng 11 năm 2006), LGBT world legal wrap up survey (PDF), ILGA, truy cập 2007-09-21 
  214. ^ Lum, Rebecca Rosen (2007-08-20). “Mormon church changes stance on homosexuality”. Oakland Tribune. 
  215. ^ Catechism of the Catholic Church, para. 2357 Catholic Church
  216. ^ 1995 Dallin H. Oaks Statement, Official Site of the Church of Jesus Christ of Latter-day Saints. Retrieved on September 27, 2007.
  217. ^ Hinckley, Gordon B.; Monson, Thomas S.; Faust, James E. (20 tháng 10 năm 2004), First Presidency Statement on Same-Gender Marriage, Salt Lake City, Utah: LDS Church 
  218. ^ http://www.deseretnews.com/article/700257603/LDS-Church-issues-statement-on-same-sex-marriage.html?pg=all
  219. ^ “Conservative Jewish Seminary To Allow Gays”, CBS News, 2007-03-27, truy cập 2007-05-04 
  220. ^ "Family group to boycott Ford for its gay support.(American Family Association (AFA))(Brief Article)." PR Week (US) (June 6, 2005): 02. General Reference Center Gold. Thomson Gale. Newport News Public Library System. 7 Apr. 2007.
  221. ^ Catalyst, Sr. Kitty, Staff of San Francisco City Clinic; "Reading This Might Save Your Ass"; 2001, San Francisco HIV Prevention and STD Prevention and Control.
  222. ^ Men Like Us: The GMHC Complete Guide to Gay Men's Sexual, Physical, and Emotional Well-being; Wolfe, Daniel; Gay Men's Health Crisis, Inc; Published by Ballantine Books, 2000; ISBN 0345414969, 9780345414960.
  223. ^ http://www.bacsigiadinh.com/2392/Ky-thi-day-nguoi-dong-tinh-vao-con-duong-mai-dam.aspx
  224. ^ http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/5/113/83180/Quan-he-dong-tinh-nam-lay-HIV-cao-gap-20-lan-mai-dam.aspx
  225. ^ a ă â http://www.cbsnews.com/8301-204_162-57554994/cdc-hiv-rates-high-among-young-gay-men-many-unaware-theyre-infected/
  226. ^ NATIONAL HIV/AIDS STRATEGY FOR THE UNITED STATES. P 14
  227. ^ Prejean J, Song R, Hernandez A, Ziebell R, Green T, et al. (2011) Estimated HIV Incidence in the United States, 2006-2009. PLoS ONE 6(8): e17502. doi:10.1371/journal.pone.0017502
  228. ^ Cber / Fda. “FDA Policy on Blood Donations from Men Who Have Sex with Other Men”. Web.archive.org. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  229. ^ “The National Blood Service — Exclusion of Men who have Sex with Men from Blood Donation”. Blood.co.uk. 19 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]