Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi
| Tên khác | Bafana Bafana (Các cậu bé, các cậu bé) |
||
| Hiệp hội | Hiệp hội bóng đá Nam Phi | ||
| Liên đoàn châu lục | CAF (châu Phi) | ||
| Huấn luyện viên | |||
| Đội trưởng | Aaron Mokoena | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Aaron Mokoena (94) | ||
| Vua phá lưới | Benni McCarthy (32) | ||
| Sân nhà | Soccer City | ||
| Mã FIFA | RSA | ||
| Xếp hạng FIFA | 56 (5.2013) | ||
| Cao nhất | 16 (8.1996) | ||
| Thấp nhất | 109 (8.1993) | ||
| Hạng Elo | 65 (3.7.2012) | ||
| Elo cao nhất | 21 () | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên (Buenos Aires, Argentina; 9 tháng 7, 1906) |
|||
| Trận thắng đậm nhất (Adelaide, Úc; 17 tháng 9, 1955) |
|||
| Trận thua đậm nhất (Newcastle, Úc; 7 tháng 6, 1947) (Los Angeles, Hoa Kỳ; 6 tháng 10, 1993) (Washington, Hoa Kỳ; 3 tháng 6, 2000) (Monastir, Tunisia; 31 tháng 1, 2004) |
|||
|
|
|||
| Giải Thế giới | |||
| Số lần tham dự | 3 (lần đầu vào năm 1998) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vòng 1, 1998; 2002 và 2010 | ||
| Cúp bóng đá châu Phi | |||
| Số lần tham dự | 6 (lần đầu vào năm 1996) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch, 1996 | ||
| Cúp Liên đoàn các châu lục | |||
| Số lần tham dự | 2 (lần đầu vào năm 1997) | ||
| Kết quả tốt nhất | Hạng tư, 2009 | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi, còn có biệt danh là "Bafana Bafana", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Nam Phi và đại diện cho Nam Phi trên bình diện quốc tế.
Đội quay trở lại đấu trường quốc tế vào năm 1992, sau nhiều năm bị FIFA cấm thi đấu. Nam Phi cũng là quốc gia giành quyền đăng cai vòng chung kết FIFA World Cup lần thứ 19 vào năm 2010. Đây là Giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên được tổ chức tại Châu Phi. Thành tích lớn nhất của đội cho đến nay là chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi 1996.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Bóng đá du nhập vào Nam Phi trong thời kỳ thuộc địa vào cuối thế kỷ 19 bởi các binh sĩ người Anh.[1] Ngay từ đầu, nạn phân biệt chủng tộc đã tồn tại trong các tổ chức bóng đá Nam Phi. Liên đoàn bóng đá dành cho người da trắng (Football Association of South Africa - FASA), được thành lập vào năm 1892. Còn các Liên đoàn dành cho người gốc Ấn ( South Africa Indian Football Association - SAIFA), dành cho người Bantu (South African Bantu Football Association - SABFA) và người da màu (South African Coloured Football Association - SACFA) được lần lượt thành lập vào các năm 1903, 1933 và 1936.
Nam Phi là trong bốn thành viên của châu Phi tham dự kỳ đại hội của FIFA năm 1953, và giành được một ghế trong Ủy ban điều hành.[2] Cũng chính bốn quốc gia này (Nam Phi, Ethiopia, Ai Cập và Sudan) là bốn sáng lập viên của Liên đoàn bóng đá châu Phi vào năm 1956,[2]. Nhưng ngay từ đầu Nam Phi đã rõ ràng quan điểm họ không thể gửi một đội tuyển thống nhất mà chỉ có thể gửi một đội tuyển toàn người da trắng hoặc toàn người da màu tham dự Cúp bóng đá châu Phi năm 1957. Với các thành viên khác của Liên đoàn thì đây là điều không thể chấp nhận được và Nam Phi bị loại khỏi giải, tuy nhiên theo một số nguồn tin khác thì đội đã tự động rút lui.
Thời kỳ Apartheid [sửa]
Tại hội nghị của CAF lần thứ hai được tổ chức vào năm 1958, Nam Phi chính thức bị loại khỏi Liên đoàn. Cùng năm, Liên đoàn bóng đá Nam Phi dành cho người da trắng (FASA) ra nhập FIFA, nhưng đến tháng 8 năm 1960 họ nhận được một tối hậu thư trong vòng một năm phải cải tổ để phù hợp với tiêu trí không kỳ thị chủng tộc của FIFA. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1961, tại hội nghị thường niên của Liên đoàn bóng đá thế giới, Nam Phi bị tước tư cách thành viên. Nhưng Sir Stanley Rous, chủ tịch The Football Association (Liên đoàn bóng đá Anh), người vừa được bầu làm chủ tịch FIFA vài ngày trước đó, đã ra sức ủng hộ quốc gia này. Ngài Rous luôn vững lập trường rằng thể thao nói chung, và FIFA nói riêng, không nên xen vao những vấn đề chính trị. Lệnh cấm được gỡ bỏ vào tháng 1 năm 1963 sau chuyến thăm Nam Phi của ngài Rous nhằm thăm quan đánh giá sự phát triển môn bóng đá tại quốc gia này.
Rous tuyên bố nếu cấm Nam Phi, bóng đá có nguy cơ ngừng phát triển và không được phủ rộng. Hội nghị thường niên của FIFA lần tiếp theo được tổ chức vào tháng 10 năm 1964 tại Tokyo, lần này có đông đảo hơn các thành viên của châu Á và châu Phi tham dự, lênh cấm Nam Phi lại được đưa ra thảo luận và được thông qua. Đến năm 1976, sau cuộc nổi dậy ở Soweto, Nam Phi chính thức mất tư cách thành viên của FIFA.
Tái hội nhập [sửa]
Năm 1991, khi chế độ apartheid dần bị xóa bỏ, Liên đoàn bóng đá Nam Phi đa chủng tộc được thành lập và ra nhập FIFA. Ngày mùng 7 tháng 7 năm 1992, tuyển Nam Phi thi đấu lại trận đầu tiên sau hơn hai thập niên bi cấm, và đánh bại Cameroon với tỉ số 1-0. Nam Phi nhanh chóng chứng tỏ vị thế một đội bóng mạnh của châu lục, đội giành quyển tham dự hai kỳ World Cup 1998 và 2002, cùng một chức vô địch châu lục năm 1996. Nam Phi cũng giành quyền đăng cai World Cup 2010, và trở thành quốc gia Phi châu đầu tiên có được vinh dự này.
Danh hiệu [sửa]
- Cúp COSAFA: 3
- 2002; 2007; 2008
Thành tích quốc tế [sửa]
Giải vô địch bóng đá thế giới [sửa]
| Năm | Kết quả | St | T | H [3] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
Không tham dự | ||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
Bị FIFA cấm | ||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
|||||||
|
|
Không vượt qua vòng loại | ||||||
|
|
Vòng 1 | 3 | 0 | 2 | 1 | 3 | 6 |
|
|
Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 5 | 5 |
|
|
Không vượt qua vòng loại | ||||||
|
|
Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 3 | 5 |
| Tổng cộng | 3/19 | 9 | 2 | 4 | 3 | 11 | 16 |
FIFA Confederations Cup [sửa]
| Năm | Kết quả | St | T | H [3] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Bị FIFA cấm | |||||||
| Không giành quyền tham dự | |||||||
| Vòng 1 | 3 | 0 | 1 | 2 | 5 | 7 | |
| Không giành quyền tham dự | |||||||
| Hạng 4 | 5 | 1 | 1 | 3 | 4 | 5 | |
| Tổng cộng | 2/8 | 8 | 1 | 2 | 5 | 9 | 12 |
Cúp bóng đá châu Phi [sửa]
| Năm | Kết quả | St | T | H [3] | B | Bt | Bb | ||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Không tham dự vì apartheid | |||||||||||||||||
| Bị CAF cấm | |||||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | |||||||||||||||||
| Vô địch | 6 | 5 | 0 | 1 | 11 | 2 | |||||||||||
| Á quân | 6 | 3 | 2 | 1 | 9 | 6 | |||||||||||
| Hạng ba | 6 | 3 | 2 | 1 | 8 | 6 | |||||||||||
| Tứ kết | 4 | 1 | 2 | 1 | 3 | 3 | |||||||||||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 3 | 5 | |||||||||||
| Vòng 1 | 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 5 | |||||||||||
| Vòng 1 | 3 | 0 | 2 | 1 | 3 | 5 | |||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | |||||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | |||||||||||||||||
| Tứ kết | 4 | 1 | 2 | 1 | 5 | 3 | |||||||||||
| Tổng cộng | 8/29 1 lần: Vô địch |
31 | 13 | 9 | 9 | 37 | 32 | ||||||||||
Huấn luyện viên [sửa]
|
Cầu thủ [sửa]
Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo [sửa]
|
|
-
Cầu thủ còn đang thi đấu cho đội tuyển
Đội hình hiện tại [sửa]
Đây là đội hình 24 cầu thủ được triệu tập cho trận đấu vòng loại World Cup 2014 gặp Trung Phi [5]. Mathoho và Langerman được gọi để bổ sung cho những cầu thủ chấn thương.[6][7]
Số liệu thống kê tính đến 23 tháng 3 năm 2013.
Liên kết ngoài [sửa]
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi trên trang chủ của FIFA
Chú thích [sửa]
- ^ Goldblatt, David (2007). The Ball is Round: A Global History of Football. London: Penguin. tr. 90–91. ISBN 978-0-14-101582-8.
- ^ a b Goldblatt, The Ball is Round: A Global History of Football, tr. 493
- ^ a b c Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
- ^ a b Tính đến 13 tháng 01 năm 2010
- ^ [1] Kickoff.com. Retrieved 15 March 2013
- ^ [2] Kickoff.com. Retrieved 26 March 2013
- ^ [3] Kickoff.com. Retrieved 26 March 2013
| Danh hiệu | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: |
Vô địch châu Phi 1996 |
Kế nhiệm: |
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||