Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
 Nam Phi

Huy hiệu

Tên khác Bafana Bafana
(Các cậu bé, các cậu bé)
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Nam Phi
Liên đoàn châu lục CAF (châu Phi)
Huấn luyện viên Brasil Carlos Alberto Parreira
Đội trưởng Aaron Mokoena
Thi đấu nhiều nhất Aaron Mokoena (94)
Ghi bàn nhiều nhất Benni McCarthy (32)
Sân nhà Soccer City
Mã FIFA RSA
Xếp hạng FIFA 67 (9.2014)
Cao nhất 16 (8.1996)
Thấp nhất 109 (8.1993)
Hạng Elo 57 (15.8.2014)
Elo cao nhất 21 ()
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
Argentina Argentina 0 - 1 Nam Phi Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
(Buenos Aires, Argentina; 9 tháng 7, 1906)
Trận thắng đậm nhất
Flag of Australia.svg Úc 0 - 8 Nam Phi Cộng hòa Nam Phi
(Adelaide, Úc; 17 tháng 9, 1955)
Trận thua đậm nhất
Flag of Australia.svg Úc 5 - 1 Nam Phi Cộng hòa Nam Phi
(Newcastle, Úc; 7 tháng 6, 1947)
Flag of Mexico.svg México 4 - 0 Nam Phi Cộng hòa Nam Phi
(Los Angeles, Hoa Kỳ; 6 tháng 10, 1993)
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ 4 - 0 Nam Phi Cộng hòa Nam Phi
(Washington, Hoa Kỳ; 3 tháng 6, 2000)
Flag of Nigeria.svg Nigeria 4 - 0 Nam Phi Cộng hòa Nam Phi
(Monastir, Tunisia; 31 tháng 1, 2004)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 3 (lần đầu vào năm 1998)
Kết quả tốt nhất Vòng 1, 1998; 20022010
Cúp bóng đá châu Phi
Số lần tham dự 6 (lần đầu vào năm 1996)
Kết quả tốt nhất Vô địch, 1996
Cúp Liên đoàn các châu lục
Số lần tham dự 2 (lần đầu vào năm 1997)
Kết quả tốt nhất Hạng tư, 2009

Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi, còn có biệt danh là "Bafana Bafana", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Nam Phi và đại diện cho Nam Phi trên bình diện quốc tế.

Đội quay trở lại đấu trường quốc tế vào năm 1992, sau nhiều năm bị FIFA cấm thi đấu. Nam Phi cũng là quốc gia giành quyền đăng cai vòng chung kết FIFA World Cup lần thứ 19 vào năm 2010. Đây là Giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên được tổ chức tại Châu Phi. Thành tích lớn nhất của đội cho đến nay là chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi 1996.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá du nhập vào Nam Phi trong thời kỳ thuộc địa vào cuối thế kỷ 19 bởi các binh sĩ người Anh.[1] Ngay từ đầu, nạn phân biệt chủng tộc đã tồn tại trong các tổ chức bóng đá Nam Phi. Liên đoàn bóng đá dành cho người da trắng (Football Association of South Africa - FASA), được thành lập vào năm 1892. Còn các Liên đoàn dành cho người gốc Ấn (South Africa Indian Football Association - SAIFA), dành cho người Bantu (South African Bantu Football Association - SABFA) và người da màu (South African Coloured Football Association - SACFA) được lần lượt thành lập vào các năm 1903, 19331936.

Nam Phi là trong bốn thành viên của châu Phi tham dự kỳ đại hội của FIFA năm 1953, và giành được một ghế trong Ủy ban điều hành.[2] Cũng chính bốn quốc gia này (Nam Phi, Ethiopia, Ai CậpSudan) là bốn sáng lập viên của Liên đoàn bóng đá châu Phi vào năm 1956,[2]. Nhưng ngay từ đầu Nam Phi đã rõ ràng quan điểm họ không thể gửi một đội tuyển thống nhất mà chỉ có thể gửi một đội tuyển toàn người da trắng hoặc toàn người da màu tham dự Cúp bóng đá châu Phi năm 1957. Với các thành viên khác của Liên đoàn thì đây là điều không thể chấp nhận được và Nam Phi bị loại khỏi giải, tuy nhiên theo một số nguồn tin khác thì đội đã tự động rút lui.

Thời kỳ Apartheid[sửa | sửa mã nguồn]

Tại hội nghị của CAF lần thứ hai được tổ chức vào năm 1958, Nam Phi chính thức bị loại khỏi Liên đoàn. Cùng năm, Liên đoàn bóng đá Nam Phi dành cho người da trắng (FASA) ra nhập FIFA, nhưng đến tháng 8 năm 1960 họ nhận được một tối hậu thư trong vòng một năm phải cải tổ để phù hợp với tiêu trí không kỳ thị chủng tộc của FIFA. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1961, tại hội nghị thường niên của Liên đoàn bóng đá thế giới, Nam Phi bị tước tư cách thành viên. Nhưng Sir Stanley Rous, chủ tịch The Football Association (Liên đoàn bóng đá Anh), người vừa được bầu làm chủ tịch FIFA vài ngày trước đó, đã ra sức ủng hộ quốc gia này. Ngài Rous luôn vững lập trường rằng thể thao nói chung, và FIFA nói riêng, không nên xen vao những vấn đề chính trị. Lệnh cấm được gỡ bỏ vào tháng 1 năm 1963 sau chuyến thăm Nam Phi của ngài Rous nhằm thăm quan đánh giá sự phát triển môn bóng đá tại quốc gia này.

Rous tuyên bố nếu cấm Nam Phi, bóng đá có nguy cơ ngừng phát triển và không được phủ rộng. Hội nghị thường niên của FIFA lần tiếp theo được tổ chức vào tháng 10 năm 1964 tại Tokyo, lần này có đông đảo hơn các thành viên của châu Áchâu Phi tham dự, lênh cấm Nam Phi lại được đưa ra thảo luận và được thông qua. Đến năm 1976, sau cuộc nổi dậy ở Soweto, Nam Phi chính thức mất tư cách thành viên của FIFA.

Tái hội nhập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1991, khi chế độ apartheid dần bị xóa bỏ, Liên đoàn bóng đá Nam Phi đa chủng tộc được thành lập và ra nhập FIFA. Ngày mùng 7 tháng 7 năm 1992, tuyển Nam Phi thi đấu lại trận đầu tiên sau hơn hai thập niên bi cấm, và đánh bại Cameroon với tỉ số 1-0. Nam Phi nhanh chóng chứng tỏ vị thế một đội bóng mạnh của châu lục, đội giành quyển tham dự hai kỳ World Cup 19982002, cùng một chức vô địch châu lục năm 1996. Nam Phi cũng giành quyền đăng cai World Cup 2010, và trở thành quốc gia Phi châu đầu tiên có được vinh dự này.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch: 1996
Á quân: 1998
2002; 2007; 2008

Thành tích quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[3] B Bt Bb
Uruguay 1930
Không tham dự
Ý 1934
Pháp 1938
Brasil 1950
Thụy Sĩ 1954
Thụy Điển 1958
Chile 1962
Anh 1966
Bị FIFA cấm
México 1970
Tây Đức 1974
Argentina 1978
Tây Ban Nha 1982
México 1986
Ý 1990
Hoa Kỳ 1994
Không vượt qua vòng loại
Pháp 1998
Vòng 1 3 0 2 1 3 6
Hàn Quốc Nhật Bản 2002
Vòng 1 3 1 1 1 5 5
Đức 2006
Không vượt qua vòng loại
Cộng hòa Nam Phi 2010
Vòng 1 3 1 1 1 3 5
Brasil 2014
Không vượt qua vòng loại
Tổng cộng 3/20 9 2 4 3 11 16

FIFA Confederations Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[3] B Bt Bb
Ả Rập Saudi 1992 Bị FIFA cấm
Ả Rập Saudi 1995 Không giành quyền tham dự
Ả Rập Saudi 1997 Vòng 1 3 0 1 2 5 7
México 1999 Không giành quyền tham dự
Hàn Quốc Nhật Bản 2001
Pháp 2003
Đức 2005
Cộng hòa Nam Phi 2009 Hạng 4 5 1 1 3 4 5
Tổng cộng 2/8 8 1 2 5 9 12

Cúp bóng đá châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[3] B Bt Bb
Sudan 1957 Không tham dự vì apartheid
Ai Cập 1959 Bị CAF cấm
Ethiopia 1962
Ghana 1963
Tunisia 1965
Ethiopia 1968
Sudan 1970
Cameroon 1972
Ai Cập 1974
Ethiopia 1976
Ghana 1978
Nigeria 1980
Libya 1982
Côte d'Ivoire 1984
Ai Cập 1986
Maroc 1988
Algérie 1990
Sénégal 1992
Tunisia 1994 Không vượt qua vòng loại
Cộng hòa Nam Phi 1996 Vô địch 6 5 0 1 11 2
Burkina Faso 1998 Á quân 6 3 2 1 9 6
Ghana Nigeria 2000 Hạng ba 6 3 2 1 8 6
Mali 2002 Tứ kết 4 1 2 1 3 3
Tunisia 2004 Vòng 1 3 1 1 1 3 5
Ai Cập 2006 Vòng 1 3 0 0 3 0 5
Ghana 2008 Vòng 1 3 0 2 1 3 5
Angola 2010 Không vượt qua vòng loại
Guinea Xích đạo Gabon 2012 Không vượt qua vòng loại
Cộng hòa Nam Phi 2013 Tứ kết 4 1 2 1 5 3
Tổng cộng 8/29
1 lần: Vô địch
31 13 9 9 37 32

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

South Africa FA.png
Các huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Nam Phi

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo[sửa | sửa mã nguồn]

 
Ghi nhiều bàn thắng nhất[4]
South Africa FA.png
Cầu thủ
Số bàn
Benni McCarthy (1997-nay) 32
Shaun Bartlett (1995-2005) 28
Phil Masinga (1992-2001) 18
Siyabonga Nomvethe (1999-nay) 15
Sibusiso Zuma (1998-2008) 13
Delron Buckley (1998-nay) 10
Doctor Khumalo (1992-2001) 9
Teko Modise (2007-nay) 9
Helman Mkhalele (1994-2001) 8
John Moshoeu (1993-2004) 8
 
Khoác áo nhiều nhất[4]
South Africa FA.png
Cầu thủ
Số trận
Aaron Mokoena (1999-nay) 94
Benni McCarthy (1997-nay) 77
Shaun Bartlett (1995-2005) 74
John Moshoeu (1993-2004) 73
Siyabonga Nomvethe (1999-nay) 72
Delron Buckley (1998-nay) 72
Lucas Radebe (1992-2003) 70
Andre Arendse (1995-2004) 67
Sibusiso Zuma (1998-2008) 67
Helman Mkhalele (1994-2001) 66

   Cầu thủ còn đang thi đấu cho đội tuyển

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là đội hình 24 cầu thủ được triệu tập cho trận đấu vòng loại World Cup 2014 gặp Trung Phi [5]. Mathoho và Langerman được gọi để bổ sung cho những cầu thủ chấn thương.[6][7]

Số liệu thống kê tính đến 23 tháng 3 năm 2013.

0#0 Vị trí Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
1 TM Wayne Sandilands 23 tháng 8, 1983 (31 tuổi) 2 0 Cộng hòa Nam Phi Mamelodi Sundowns
16 TM Itumeleng Khune 20 tháng 6, 1987 (27 tuổi) 55 0 Cộng hòa Nam Phi Kaizer Chiefs
22 TM Senzo Meyiwa 24 tháng 9, 1987 (27 tuổi) 0 0 Cộng hòa Nam Phi Orlando Pirates
2 HV Siyanda Xulu 30 tháng 12, 1991 (22 tuổi) 1 0 Nga Rostov
3 HV Tebogo Langerman 6 tháng 5, 1986 (28 tuổi) 0 0 Cộng hòa Nam Phi Mamelodi Sundowns
4 HV Thabo Nthethe 3 tháng 10, 1984 (30 tuổi) 8 0 Cộng hòa Nam Phi Bloemfontein Celtic
5 HV Anele Ngcongca 20 tháng 10, 1987 (27 tuổi) 26 0 Bỉ Racing Genk
6 HV Morgan Gould 23 tháng 3, 1983 (31 tuổi) 27 1 Cộng hòa Nam Phi Kaizer Chiefs
11 HV Thabo Matlaba 13 tháng 12, 1987 (26 tuổi) 6 1 Cộng hòa Nam Phi Orlando Pirates
21 HV Eric Mathoho 1 tháng 3, 1990 (24 tuổi) 3 0 Cộng hòa Nam Phi Kaizer Chiefs
7 TV Daine Klate 25 tháng 2, 1985 (29 tuổi) 11 1 Cộng hòa Nam Phi Orlando Pirates
8 TV Siphiwe Tshabalalala 25 tháng 9, 1984 (30 tuổi) 76 10 Cộng hòa Nam Phi Kaizer Chiefs
10 TV Daylon Claasen 28 tháng 1, 1990 (24 tuổi) 7 0 Bỉ Lierse
12 TV Reneilwe Letsholonyane 9 tháng 6, 1982 (32 tuổi) 39 1 Cộng hòa Nam Phi Kaizer Chiefs
13 TV Kagisho Dikgacoi 24 tháng 11, 1984 (29 tuổi) 53 2 Anh Crystal Palace
14 TV Lerato Chabangu 15 tháng 8, 1985 (29 tuổi) 21 2 Cộng hòa Nam Phi Moroka Swallows
15 TV Dean Furman 22 tháng 6, 1988 (26 tuổi) 10 0 Anh Oldham Athletic
18 TV Thuso Phala 27 tháng 5, 1986 (28 tuổi) 9 0 Cộng hòa Nam Phi Platinum Stars
19 TV May Mahlangu 1 tháng 5, 1989 (25 tuổi) 11 2 Thụy Điển Helsingborgs IF
20 TV Oupa Manyisa 30 tháng 7, 1988 (26 tuổi) 9 0 Cộng hòa Nam Phi Orlando Pirates
9 Dino Ndlovu 15 tháng 2, 1990 (24 tuổi) 3 0 Israel Maccabi Haifa
17 Bernard Parker 16 tháng 3, 1986 (28 tuổi) 54 13 Cộng hòa Nam Phi Kaizer Chiefs
23 Tokelo Rantie 8 tháng 9, 1990 (24 tuổi) 11 3 Thụy Điển Malmö FF

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Goldblatt, David (2007). The Ball is Round: A Global History of Football. London: Penguin. tr. 90–91. ISBN 978-0-14-101582-8. 
  2. ^ a ă Goldblatt, The Ball is Round: A Global History of Football, tr. 493
  3. ^ a ă â Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
  4. ^ a ă Tính đến 13 tháng 01 năm 2010
  5. ^ [1] Kickoff.com. Retrieved 15 March 2013
  6. ^ [2] Kickoff.com. Retrieved 26 March 2013
  7. ^ [3] Kickoff.com. Retrieved 26 March 2013