Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
| Đội tuyển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa | |||
| Hiệp hội | |||
| Huấn luyện viên | Trương Tấn Bửu | ||
| Thi đấu nhiều nhất | ? | ||
| Vua phá lưới | ? | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên (Trung Quốc, 4 tháng 10, 1956) Trận quốc tế cuối (VNDCCH, 20 tháng 9, 1970) |
|||
| Trận thắng đậm nhất (VNDCCH; 15 tháng 11, 1966) |
|||
| Trận thua đậm nhất (VNDCCH, 22 tháng 11, 1959)
|
|||
|
|
|||
| Giải Thế giới | |||
| Số lần tham dự | 0 (lần đầu vào năm -) | ||
| Kết quả tốt nhất | - | ||
| Cúp bóng đá châu Á | |||
| Số lần tham dự | 0 (lần đầu vào năm -) | ||
| Kết quả tốt nhất | - | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đội tuyển cấp quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian 1955 đến 1975.
Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người châu Âu. Trong chiến tranh Việt Nam, khi Việt Nam chia thành hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mỗi nước có một đội tuyển quốc gia riêng.
Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ yếu chơi trong các giải của các nước Xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966.
Đội có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956[1], dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trương Tấn Bửu, đội đá theo sơ đồ 3-2-5 (W-M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Đức “ba xương”; các hậu vệ Te - Nghẽn - Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Luyến - Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa - Bảy - Tuất - Tiền - Ba Len.[2]. Trận này đội thua Trung Quốc 5-3.
Thập niên 1960 Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (do cầu thủ của Trường Huấn luyện quốc gia và đội Thể Công) được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Đông Đức... đã thi đấu ở các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO Châu Á (Campuchia, 1966).
Những cầu thủ nổi tiếng giai đoạn này: Thọ, Long, Phàn, Ngọc, Chính, Vinh, Từ Hiển, Hùng (xồm), Khánh, Giáp, Thế Anh... Nhiều vận động viên là lấy từ đội Thể Công.
Sau GANEFO 1966 ở Campuchia, đội ít ra nước ngoài và cuối năm 1970, Đội tuyển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không dự một trận đấu quốc tế nào nữa [3]. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng giải thể từ năm 1976 khi thống nhất với miền Nam Việt Nam thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 1991, Việt Nam mới trở lại trên trường thi đấu quốc tế với Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam.
Mục lục |
[sửa] Giải thế giới
[sửa] Giải châu Á
[sửa] Giải Đông Nam Á
- không tham dự
[sửa] Thi đấu quốc tế
| Đối thủ | Số trận | Thắng | Hòa | Thua | Bàn thắng | Bàn thua |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 1 | 0 | 5 | |||
| 6 | 1 | 5 | 9 | 17 | ||
| 1 | 1 | 2 | 1 | |||
| 1 | 1 | 1 | 4 | |||
| 1 | 1 | 3 | 1 | |||
| 1 | 1 | 2 | 1 | |||
| 3 | 1 | 2 | 6 | 5 | ||
| 2 | 2 | 2 | 5 | |||
| 1 | 1 | 9 | 1 | |||
| 1 | 1 | 3 | 1 | |||
| 6 | 6 | 2 | 17 | |||
| 1 | 1 | 9 | 0 | |||
| 1 | 1 | 4 | 0 |
Nguồn : [4]
[sửa] Xem thêm
[sửa] Chú thích
- ^ “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Truy cập 11 tháng 6 năm 2009.
- ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng “cháy” & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 28 tháng 1 năm 2009.
- ^ North Vietnam - List of International Matches
- ^ Dựa theo [1] và [2], Truy cập 7 tháng 12 năm 2009
[sửa] Liên kết ngoài
- North Vietnam - List of International Matches
- Kết quả thi đấu quốc tế của Đội tuyển VNDCCH
- Những “phép mầu” của danh thủ Trương Tấn Bửu
| Ả Rập Saudi | Afghanistan | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | Bhutan | Brunei | UAE | Campuchia | Đông Timor | Guam | Hàn Quốc | Hồng Kông | Indonesia | Iran | Iraq | Jordan | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban | Ma Cao | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestine | Philippines | Qatar | Singapore | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | CHDCND Triều Tiên | Trung Quốc | Trung Hoa Đài Bắc (Đài Loan) | Turkmenistan | Úc | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||