Đa Nhĩ Cổn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đa Nhĩ Cổn
Hòa Thạc Duệ Thân vương
(和碩睿親王)
Dorgon, the Prince Rui (17th century).jpg
Chân dung của Đa Nhĩ Cổn
Nhiếp chính vương của nhà Thanh
1643–1650
(7 năm)
Tiền nhiệm (Không. Chức vụ được thành lập.)
Kế nhiệm (Không. Chức vụ bị bãi bỏ.)
Thông tin chung
Phối ngẫu
Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị
Đông Giai thị
Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị
Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị
Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị
Lý Ái Thục
Cung Tề Đặc thị
Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị
Tế Nhĩ Mạc Đặc thị
Lý thị
Hậu duệ Đổng Ngạch (con gái)
Đa Nhĩ Bác (con nuôi)
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Đa Nhĩ Cổn
(愛新覺羅·多爾袞)
Thụy hiệu 1. Nghĩa Hoàng đế (Trung văn phồn thể: 義皇帝)
(bị tước bỏ năm 1651)
2. Hòa Thạc Duệ Trung thân vương
(和碩睿忠親王)
(tấn phong năm 1778)
Miếu hiệu Thanh Thành Tông
(清成宗)
(bị tước bỏ năm 1651)
Hoàng tộc Ái Tân Giác La
Thân phụ Nỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫu Hiếu Liệt Vũ hoàng hậu
Sinh 17 tháng 11, 1612(1612-11-17)
Hách Đồ A Lạp (nay là Tân Tân, Phủ Thuận, Liêu Ninh)
Mất 31 tháng 12, 1650 (38 tuổi)
Khách Lạt thành (nay là Thừa Đức, Hà Bắc)
Tên tiếng Trung
Phồn thể 多爾袞
Giản thể 多尔衮
Bính âm Hán ngữ Duō'ěrgǔn
Tên tiếng Mãn
Mãn tự ᡩᠣᡵᡤᠣᠨ
Phiên âm Hán-Việt Đa Nhĩ Cổn

Đa Nhĩ Cổn (Mãn Châu: Dorgon.png (Dorgon); chữ Hán: 多爾袞; bính âm: Duō'ěrgǔn) (16121650) là một trong những hoàng thân có ảnh hưởng lớn trong đầu nhà Thanh. Ông giữ ngôi vị nhiếp chính vương triều Thanh khi quân Thanh vào Sơn Hải quan tấn công quân Lý Tự Thành và đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh, đặt nền móng vững chắc cho triều đại nhà Thanh thống nhất Trung Hoa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn sinh ngày 17 tháng 11 năm 1612, tại Yenden, Mãn Châu (nay là Tân Tân, tỉnh Liêu Ninh), Trung Hoa. Ông là con trai thứ 14 của thủ lĩnh người Nữ Chân Nỗ Nhĩ Cáp XíchA Ba Hợi, người bộ tộc Ô Lạp Ná Lạp (Ula Nara), một trong những sủng thiếp của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Ông có 2 người anh em ruột là A Tế Cách (anh trai, thứ 12) và Đa Đạc (em trai, thứ 15). Hoàng Thái Cực, người mà sau này trở thành hoàng đế, là anh trai thứ 8 và là người anh cùng cha khác mẹ của Đa Nhĩ Cổn.

Như những người anh em của mình, Đa Nhĩ Cổn bắt đầu dùng họ Aisin-Gioro (Ái Tân Giác La) vào khoảng năm 1616, khi cha ông lên ngôi Đại Hãn. Mẹ ông tuy khởi đầu chỉ là một thứ thiếp, nhưng lại rất được cha ông sủng ái. Năm 1620, Trắc phúc tấn A Ba Hợi (thứ thiếp) được lập lên ngôi vị Đại phúc tấn (chính thất) của Đại Hãn. Cả 3 anh em Đa Nhĩ Cổn đều có được sự ưu ái đặc biệt của Đại Hãn.

Bất lực trong cuộc chiến giành quyền lực lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1627, Nỗ Nhĩ Cáp Xích chết nhưng chưa kịp chỉ định người kế vị. Ông ta chỉ mới kịp giao cho người vợ A Ba Hợi sủng ái của mình quyền lãnh đạo 3 kỳ (Gūsa) trực tiếp lãnh đạo để chia cho 3 người con của bà. Bằng những thủ đoạn chính trị, vị hoàng tử thứ 8 Hoàng Thái Cực đã tranh thủ được sự ủng hộ của các thủ lĩnh bộ lạc lên ngôi Đại Hãn.

Tương truyền, ngay sau khi lên ngôi, Hoàng Thái Cực đã hợp cùng với các vị Đại bối lặc lớn tuổi, bức A Ba Hợi phải tự sát với lý do theo di chúc của vua cha muốn tuẫn táng cùng bà. Sau đó, ông phân chia các kỳ cho các con trai của bà như sau: A Tế Cách nắm Chính Lam kỳ, Đa Nhĩ Cổn nắm Chính Hoàng kỳ, Đa Đạc được giao Tương Hoàng Kỳ. Không lâu sau, đến lượt A Tế Cách bị đoạt binh quyền. Đa Nhĩ Cổn lúc này còn quá nhỏ, bất lực trước tình hình, xem như mất hẳn quyền kế vị. Tuy nhiên, ông xác định tạm nén mình ẩn nhẫn, dùng chiến công để xây dựng lại thế lực, chờ thời cơ để đoạt lại ngôi vị Đại Hãn.

Từng bước xây dựng thế lực[sửa | sửa mã nguồn]

Chính thái độ ẩn nhẫn của Đa Nhĩ Cổn đã giúp ông thoát khỏi hàng loạt vụ thanh trừng của anh mình. Tuy vậy, nhằm đề phòng ảnh hưởng của anh em Đa Nhĩ Cổn, sau khi lên ngôi Hoàng đế Đại Thanh, năm 1636, Hoàng Thái Cực thu lại quyền lãnh đạo 2 Hoàng kỳ vốn rất trung thành với vua cha, đang thuộc quyền lãnh đạo của anh em Đa Nhĩ Cổn, với lý do đây là những Kỳ thuộc quyền Hoàng đế. Để xoa dịu, ông ta đổi lại 2 Bạch kỳ vốn trung thành với mình và phong cho Đa Nhĩ Cổn làm Hòa Thạc Duệ Thân Vương (Mãn Châu: Hošoi Mergen Cin Wang; chữ Hán: 和碩睿親王; bính âm: Héshuòruìqīnwáng).

Nhận thấy thời cơ vẫn chưa chín muồi, Đa Nhĩ Cổn đành nuốt hận. Ông nhẫn nhịn theo phò Đại Hãn Nam chinh Bắc chiến, thu phục Triều Tiên, chinh phạt Mông Cổ, nhiều lần đem quân đánh nhà Minh. Khi Hoàng Thái Cực chết, hai Kỳ Trắng do anh em ông lãnh đạo đã mở rộng dần từ 50 Niru (tức khoảng 15.000 người) lên đến 65 Niru (khoảng 19.500 người), chiếm hơn 31% quân số của Bát Kỳ.

Cuộc chiến quyền lực lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Với thế lực hùng mạnh, sau khi Hoàng Thái Cực chết vào năm 1643, Đa Nhĩ Cổn lao vào cuộc tranh giành đế vị với Hào Cách (Hooge), con trưởng của Hoàng Thái Cực. Tuy Hào Cách là người thiếu quyết đoán, thế lực chỉ gồm 61 Niru, nhưng lại có được sự ủng hộ của các Đại bối lặc khác là Đại Thiện (Daišan) và Tế Nhĩ Cáp Lãng (Jirgalang). Lực lượng của 3 người hợp lại có khoảng 145 Niru (khoảng 43.500 người). Cộng thêm ảnh hưởng do công lao của Hoàng Thái Cực quá lớn, Đa Nhĩ Cổn không thể thực hiện thành công ý định. Ông đành chấp nhận giải pháp thỏa hiệp là phò lập con thứ 9 của Hoàng Thái Cực mới 6 tuổi là Phúc Lâm (Fulin) lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thuận Trị. Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn và Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng phụ chính.

Trên thực tế, Tế Nhĩ Cáp Lãng dù là một tướng lĩnh quân sự tài giỏi nhưng lại không quan tâm nhiều đến chính trị. Quyền hành chính trị nhanh chóng do một mình Đa Nhĩ Cổn quyết định thay mặt cho Thuận Trị và trở thành một ông vua không ngai cho đến khi chết.

Hoàn tất chinh phạt Trung Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1644, Tổng binh Sơn Hải Quan Ngô Tam Quế đề nghị quân Thanh liên minh nhằm đánh lại quân Lý Tự Thành. Nhận thấy đây là một cơ hội ngàn vàng để thâm nhập Trung nguyên, Đa Nhĩ Cổn chỉ huy quân Thanh tiến vào quan ải, hợp binh với Ngô Tam Quế đánh bại Lý Tự Thành. Sau khi chiếm được thành Bắc Kinh, ông cùng các quan lại nhà Thanh làm đại lễ đăng quang cho Thuận Trị tại Tử Cấm Thành.

Bên cạnh đó, với lý do thiên hạ còn chưa yên, ông sai các tướng nhà Minh tiếp tục đị đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh và quân khởi nghĩa chống Thanh, dưới sự kiểm soát của ông. Giao ước liên minh thực chất bị xóa bỏ, không lâu sau, khi các thế lực chống Thanh bị dẹp yên về cơ bản, ông phong các tướng lĩnh nhà Minh đầu hàng chức quan của nhà Thanh, buộc cạo nửa đầu thắt bím, hợp thức hóa quyền thống trị của nhà Thanh trên toàn cõi Trung Hoa. Cũng với biện pháp này, ông buộc tất cả mọi người dân Hán dưới quyền kiểm soát của nhà Thanh đều phải cạo đầu thắt bím, tuần tự đồng hóa với người Mãn Châu. Những nơi chống đối, ông cho thực hiện những biện pháp tàn sát để buộc người dân phải quy phục.

Uy quyền của Đa Nhĩ Cổn trở nên tột đỉnh, khi ông chỉ cần lợi dụng một thế cờ mà dễ dàng lấy được cả giang sơn Trung Hoa về cho nhà Thanh. Năm 1645, ông được phong làm Hoàng Thúc Phụ Nhiếp Chính Vương (皇叔父攝政王). Không lâu sau đó, năm 1648, ông được gia phong trở thành Hoàng Phụ Nhiếp Chính Vương (皇父攝政王).

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn đột ngột qua đời trong một chuyến đi săn vào ngày 31 tháng 12 năm 1650 ở tuổi 38 ở Kharahotun [nay là Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc]. Ông được Hoàng đế Thuận Trị tôn phong thụy hiệu Hoàng đế, điều mà chỉ duy nhất có ở nhà Thanh. Thụy hiệu của ông là Mậu Đức Tu Viễn Quảng Nghiệp Định Công An Dân Lập Chính Thành Kính Nghĩa Hoàng Đế (懋德修遠廣業定功安民立政誠敬義皇帝). Miếu hiệu của ông là Thành Tông (成宗). Ngay cả hoàng đế Thuận Trị đã lạy ba lần trước mộ phần của Đa Nhĩ Cổn.

Bị trừng phạt và phục hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn 15 tuổi chứng kiến mẹ ruột bị bức tử, bị tước mất quyền kế vị Đại Hãn. Cả đời ông luôn nhẫn nhịn để tìm cách đoạt lại ngôi vị Hoàng đế nhưng chưa thực hiện được thì đã qua đời. Dù vậy, khi trở thành Nhiếp chính vương và chiếm được Bắc Kinh, ông đã tự cho phép mình sử dụng những nghi vệ long trọng, vốn chỉ danh cho Hoàng đế. Bên cạnh đó, tương truyền ông đã cưới Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu, tuy nhiên giả thuyết này vẫn còn được tranh cãi, trở thành một trong 4 bí ẩn lớn của nhà Thanh. Tất cả những điều này làm cho vị vua trẻ Thuận Trị hết sức không hài lòng.

Vì vậy, chỉ 1 năm sau, năm 1651, những thế lực chống lại Đa Nhĩ Cổn, đứng đầu là cựu đồng Nhiếp chính vương, Hòa Thạc Trịnh Thân Vương Tế Nhĩ Cáp Lãng, vốn bị Đa Nhĩ Cổn tước vị Nhiếp chính vào năm 1647, đã trình cho hoàng đế một danh sách dài các tội của Đa Nhĩ Cổn, bao gồm: Bí mật may hoàng bào (tuyệt đối chỉ dùng cho hoàng đế); Bày mưu cướp ngai vàng của Thuận Trị; Tự phong Hoàng phụ; giết Hào Cách và cướp thê thiếp của ông ta cho mình, v..v... Nhiều người tin rằng Đa Nhĩ Cổn đã sắp đặt cuộc chiến giành quyền lực với hoàng đế Thuận Trị khi Hoàng đế đã sang tuổi trưởng thành. Nên khi các thế lực chống Đa Nhĩ Cổn giành được quyền lực, hoàng đế Thuận Trị đã tước mọi danh hiệu của Đa Nhĩ Cổn và còn đánh vào cả quan tài.

Ông được phục hiệu trong thời Khang HyCàn Long và được truy tôn như một hoàng thân trung thành của nhà Thanh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn không được ghi chép là có con trai nối dõi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]