Điều khiển truy cập trên cơ sở vai trò

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong an ninh đối với các hệ thống máy tính, điều khiển truy cập trên cơ sở vai trò (tiếng Anh: Role-Based Access Control - viết tắt là RBAC) là một trong số các phương pháp điều khiển và đảm bảo quyền sử dụng cho người dùng. Đây là một phương pháp có thể thay thế Điều khiển truy cập tùy quyền (discretionary access control - DAC) và Điều khiển truy cập bắt buộc (mandatory access control - MAC).

Điều khiển truy cập trên cơ sở vai trò (RBAC) khác với hình thức MAC và DAC truyền thống. MAC và DAC trước đây là hai mô hình duy nhất được phổ biến trong điều khiển truy cập. Nếu một hệ thống không dùng MAC thì người ta chỉ có thể cho rằng hệ thống đó dùng DAC, hoặc ngược lại, mà thôi. Song cuộc nghiên cứu trong những năm 1990 đã chứng minh rằng RBAC không phải là MAC hoặc DAC.

Trong nội bộ một tổ chức, các vai trò (roles) được kiến tạo để đảm nhận các chức năng công việc khác nhau. Mỗi vai trò được gắn liền với một số quyền hạn cho phép nó thao tác một số hoạt động cụ thể ('permissions'). Các thành viên trong lực lượng cán bộ công nhân viên (hoặc những người dùng trong hệ thống) được phân phối một vai trò riêng, và thông qua việc phân phối vai trò này mà họ tiếp thu được một số những quyền hạn cho phép họ thi hành những chức năng cụ thể trong hệ thống.

Vì người dùng không được cấp phép một cách trực tiếp, song chỉ tiếp thu được những quyền hạn thông qua vai trò của họ (hoặc các vai trò), việc quản lý quyền hạn của người dùng trở thành một việc đơn giản, và người ta chỉ cần chỉ định những vai trò thích hợp cho người dùng mà thôi. Việc chỉ định vai trò này đơn giản hóa những công việc thông thường như việc cho thêm một người dùng vào trong hệ thống, hay đổi ban công tác (department) của người dùng.

RBAC khác với các danh sách điểu khiển truy cập (access control list - ACL) được dùng trong hệ thống điều khiển truy cập tùy quyền, ở chỗ, nó chỉ định các quyền hạn tới từng hoạt động cụ thể với ý nghĩa trong cơ quan tổ chức, thay vì tới các đối tượng dữ liệu hạ tầng. Lấy ví dụ, một danh sách điều khiển truy cập có thể được dùng để cho phép hoặc từ chối quyền truy cập viết một tập tin hệ thống (system file), song nó không nói cho ta biết phương cách cụ thể để thay đổi tập tin đó. Trong một hệ thống dùng RBAC, một thao tác có thể là việc một chương trình ứng dụng tài chính kiến tạo một giao dịch trong 'tài khoản tín dụng' (credit account transaction), hay là việc một chương trình ứng dụng y học khởi thủy một bản ghi 'thử nghiệm nồng độ đường trong máu' (blood sugar level test). Việc chỉ định quyền hạn cho phép thi hành một thao tác nhất định là một việc làm đầy ý nghĩa, vì các thao tác đã được phân định tinh tế[1] và mỗi cá nhân thao tác có một ý nghĩa riêng trong chương trình ứng dụng.

Với khái niệm về hệ thống cấp bậc trong vai trò (role hierarchy) và khái niệm về các hạn chế (constraints), ta có thể điều khiển RBAC để kiến tạo hoặc mô phỏng điều khiển truy cập dùng bố trí mắt lưới (Lattice-Based Access Control - LBAC). Vì thế RBAC có thể được coi như là một siêu tập [2] (superset) của LBAC.

Khi định nghĩa một mô hình RBAC, những quy ước sau đây là những quy ước hữu dụng và cần phải cân nhắc:

  • U = (User)Người dùng = Một người hoặc một tác nhân tự động.
  • R = (Role)Vai trò = Chức năng công việc / Danh hiệu dùng định nghĩa một cấp bậc quyền thế.
  • P = Quyềnn được cấp = Sự phê chuẩn một hình thức truy cập tài nguyên.
  • S = (Session)Phiên giao dịch = Một xếp đặt liên kết giữa U, R và P
  • UA = (User Assignment)Chỉ định người dùng.
  • PA = (Permission Assignment)Cấp phép
  • RH = (Role Hierarchy)Sắp xếp trật tự một phần nào theo thứ tự cấp bậc của vai trò. RH còn có thể được viết là >
  • Một người dùng có thể có nhiều vai trò.
  • Một vai trò có thể có thể có nhiều người dùng.
  • Một vai trò có thể có nhiều phép được cấp cho nó.
  • Một phép được cấp có thể được chỉ định cho nhiều vai trò.

Phép được cấp cho các vai trò đối lập có thể sẽ bị hạn chế khả năng thừa kế của chúng, nếu một hạn chế (constraint) nào đấy đặt một điều luật giới hạn nó. Chẳng hạn, một cá nhân không thể vừa được phép kiến tạo một trương mục đăng nhập cho một người nào đấy, vừa được phép ủy quyền thủ tục.

Chính vì vậy, bằng việc sử dụng ký hiệu của lý thuyết tập hợp (set theory), chúng ta có thể viết:

  • PA là một tiểu tập của (hoặc bằng) P x R và là một phép cấp có mối quan hệ nhiều đối nhiều (many to many) với chỉ định vai trò.
  • UA là một tiểu tập của (hoặc bằng) U x R và có mối quan hệ nhiều đối nhiều (many to many) với chỉ định vai trò.
  • RH là một tiểu tập của (hoặc bằng) R x R

Ký hiệu: x > y có nghĩa là y thừa kế các phép cấp của x.

Một người dùng có thể cùng một lúc có một bội số các phiên giao dịch với nhiều phép được cấp khác nhau (multiple simultaneous sessions with different permissions).

Việc sử dụng RBAC để quản lý các đặc quyền của người dùng trong một hệ thống duy nhất hay trong một chương trình ứng dụng là một thực hành tốt nhất được rộng rãi chấp thuận. Các hệ thống bao gồm thư mục năng động (Active Directory) của Microsoft, SELinux, Oracle DBMS, PostgreSQL 8.1, SAP R/3 và nhiều cái khác đều hầu như thực thi một trong những hình thức của RBAC.

Tuy nhiên, việc sử dụng RBAC để quản lý quyền lợi của người dùng, trên toàn thể các chương trình ứng dụng, là một việc làm còn nhiều tranh luận. Sở dĩ như vậy là vì người dùng thường là một đơn vị đặc hữu (unique), cho nên nhiệm vụ định nghĩa các vai trò tương ứng (defining sufficient roles) và chỉ định các tư cách hội viên cho các vai trò một cách phù hợp, trong một tổ chức với hạ tầng cơ sở kỹ thuật thông tin (IT) không đồng nhất, hòng nắm bắt các nhu cầu về quyền lợi, trong khi các nhu cầu này có tầm trải rộng trên hàng chục, hằng trăm hệ thống và trên các chương trình ứng dụng, là một việc hết sức phức tạp. Vấn đề này, và những chiến lược thay thế, hiện đang được bàn luận trên bạch thư (white paper): Beyond Roles: A Practical Approach to Enterprise User Provisioning (Bên ngoài giới hạn của các vai trò: Một tiếp cận thực tiễn trong Kinh doanh Cung cấp Người dùng).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thao tác gọi là được phân định tinh tế (tiếng Anh: Fine Grained) là thao tác tương đối nhỏ về cỡ của mã lệnh (code) cũng như về thời gian thi hành đòi hỏi (excution time). Trong truy cập thông tin, các thao tác được phân định mức truy cập tinh tế (fine grained access) đòi hỏi sự truy cập nhiều lần của nhiều thao tác nhỏ để hoàn thành một nhiệm vụ. Chẳng hạn, để cập nhật một bản ghi (update a record), trình ứng dụng phải phân định chu trình cập nhật thành những phần nhỏ, và chỉ cho phép thao tác cập nhật từng trường một (a field at a time). Sau khi một trường đã được cập nhật, thì mới được thao tác cho trường tiếp theo. Mỗi thao tác có thể được kiểm tra về tính hợp pháp của nó.
  2. ^ Trong lý thuyết tập hợp (tiếng Anh: Set Theory), Một siêu tập bao trùm các tiểu tập. Khi chúng ta viết AB, thì nó có nghĩa là A là một tiểu tập của B, và BA có nghĩa là B là siêu tập của A. Một khái niệm B trở thành siêu tập của một khái niệm A có nghĩa là khái niệm B có những đặc tính bao trùm khái niệm A và A chỉ là một khái niệm rút ra từ khái niệm B, hay nói cách khác, khái niệm A được phát triển dựa trên nền của khái niệm B, và chỉ giải quyết một phần của khái niệm B mà thôi.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]