Torii

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Điểu cư)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Torii nổi tiếng tại Đền Itsukushima.

Torii (Nhật: 鳥居 (Điểu cư)? /ˈtɔəri./) là một loại cổng truyền thống của Nhật Bản thường được thấy ở lối vào hoặc trong đền thờ Thần đạo. Đó là vật được đánh dấu sự cho chuyển đổi từ ô uế đến thiêng liêng. Sự hiện diện của cổng torii tại lối vào là cách thường thấy nhất để nhận dạng đền thờ Thần đạo, một biểu tượng torii nhỏ cũng đại diện cho một đền thờ khi nó được in trên bản đồ. Tuy nhiên, nó cũng được thấy phổ biến tại Tự viện Nhật Bản, đó là nơi mà chúng được xây tại lối vào của các ngôi đền được gọi là trấn thủ xã (Nhật: 鎮守社 chinjusha?) và thường rất nhỏ.

Sự xuất hiện đầu tiên của torii có thể được xác định chính xác nhất ít nhất ở trung kỳ Thời kỳ Heian vì chúng được đề cập đến trong một văn bản viết năm 922. Cổng torii bằng đá xưa nhất còn tồn tại được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 nằm ở Đền Hachiman thuộc tỉnh Yamagata. Cổng torii bằng gỗ xưa nhất là ryōbu torii (Nhật: 両部鳥居 (lạng bộ điểu cư)?) tại một đền thờ ở tỉnh Yamanashi, được xây dựng vào năm 1535.

Theo truyền thống thì torii được làm từ gỗ hoặc đá, nhưng hiện nay nó cũng có thể được làm bằng bê tông, đồng, thép không rỉ hoặc các loại vật liệu khác. Chúng thường được sơn hoặc không sơn đỏ với một cây ngang ở phía trên. Đền thờ thần Inari là thần xã điển hình với hàng loạt torii vì có những người khách viếng thành công trong kinh doanh đã tặng torii cho thần Inari, vị thần tượng trưng cho sự sanh sôi và cần mẫn, như một cử chỉ của lòng biết ơn. Đại xã Fushimi Inari tại Kyoto có cả ngàn điểu cư, mỗi cổng đều có tên người tặng ở trên nó.

Nghĩa và cách sử dụng torii[sửa | sửa mã nguồn]

Một cổng torii tại lối vào Shitennō-ji, một ngôi chùa tại Osaka.

Chức năng của torii là để đánh dấu lối vào của một chốn linh thiêng. Cũng vì lẽ đó mà con đường dẫn vào đền thờ Thần đạo được gọi là sandō (Nhật: 參道 (tham đạo)?), luôn được mở rộng ra bởi một hoặc nhiều torii, đó cũng là cách dễ nhất để phân biệt một ngôi đền với một ngôi chùa. Nếu sandō đi qua nhiều torii thì cái ở ngoài gọi là ichi no torii (Nhật: 一之鳥居 (nhất chi điểu cư)?). Các cổng tiếp theo gần ngôi đền hơn, theo thứ tự, ni no torii (Nhật: 二之鳥居 (nhị chi điểu cư)?)san no torii (Nhật: 三の鳥居 (tam chi điểu cư)?). Các torii khác nằm xa ngôi đền hơn đại diện cho mức độ nâng cao sự thiêng liêng của cổng gần honden (Nhật: 本殿 (bổn điện)?). Cũng nhờ mối quan hệ vững chắc giừa đền thờ Thần đạo và Hoàng thất Nhật Bản nên torii luôn đứng trước lăng mộ của hoàng đế.

Torii có trước hay sau khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản cho đến bây giờ vẫn còn là một câu hỏi. Trong quá khứ torii chắc chắn đã từng được dùng tại lối vào các ngôi chùa. Thậm chí trong hiện tại, nổi bật như chùa Tứ Thiên Vương được xây bởi Thái tử Shotoku - ngôi chùa lâu đời nhất nước Nhật - cũng có một cổng torii trước lối vào.

Nguồn gốc của torii[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của torii hiện nay vẫn chưa rõ ràng. Cho đến giờ có khá nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của torii nhưng chưa có giả thuyết nào được xem là đúng và được đa số đồng tình. Bởi vì việc sử dụng các cổng biểu tượng như vậy khá phổ biến ở châu Á, những kiến trúc như vậy có thể ở một số nước châu Á như: Ấn Độ, Trung Hoa, Thái Lan, Hàn Quốc. Các sử gia tin rằng có sự du nhập của các kiến trúc như vậy.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]