Đinh Đức Thiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đinh Đức Thiện
Đinh Đức Thiện.jpg
Thượng Tướng Đinh Đức Thiện
Tiểu sử
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

1914

Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Việt Nam
Mất

1986

Hà Nội, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1941 - 1986
Cấp bậc Vietnam People's Army Colonel General.jpgThượng tướng
Chỉ huy Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Việt Minh
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Khen thưởng Hchcm.JPGHuân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Quân công hạng nhất
Huan-chuong-Chien-thang.jpgHuân chương Chiến thắng hạng nhất
Huân chương Kháng chiến hạng nhất
...
Công việc khác Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng

Đinh Đức Thiện, tên thật là: Phan Đình Dinh (sinh ngày 15 - 11 - 1914 – mất ngày 21 - 12 - 1986) là một trong những người lãnh đạo chủ chốt trong việc xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trong Chiến tranh Việt Nam; nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Cơ khí Luyện kim, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam, Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Phan Đình Dinh, quê làng Địch Lễ, xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Nay là xã Nam Vân, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.Ông sinh trưởng trong gia đình nhà nho nghèo, cha mất sớm, mẹ ông đã tần tảo nuôi 8 người con.Ông là em trai của Lê Đức Thọ và là anh trai của Mai Chí Thọ.

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm Bí thư, kiêm Chủ tịch tỉnh Bắc Giang, sau đó giữ nhiều trọng trách ở Khu uỷ Việt Bắc và các chức vụ quan trọng khác của chính phủ, quân đội vào những thời khắc khó khăn nhất.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 4 năm 1974, Trung tướng năm 1984 và Thượng tướng tháng 12 năm 1986.

Hoạt động hậu cần quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, ông được điều vào quân đội giữ chức Cục trưởng Cục vận tải. Năm 1954, là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặc trách nhiệm vụ đảm bảo hậu cần tiếp tế các chiến dịch, đặc biệt Đông Xuân 1953-1954, chuẩn bị nhu cầu đáp ứng lương thực chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đến năm 1965, ông được điều trở lại quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương với nhiệm vụ vận tải tiếp tế cho cách mạng miền Nam. Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, ông là một trong những lãnh đạo chủ chốt xây dựng con đường chiến lược đường mòn Hồ Chí Minh, mật danh 559, chi viện chiến lược cho chiến trường miền Nam. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề, Mỹ dùng chiến thuật không quân rải thảm bom trên tất cả các tuyến đường, đặc biệt khu Bốn và dọc tuyến đường Trường Sơn để ngăn chặn từ xa nguồn tiếp viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Ông cho dùng đường ống bơm xăng qua sông Lam, sông La vào Hà Tĩnh. Ý tưởng lập đường ống xăng dầu của ông vào thời điểm đó thật táo bạo, vượt sự hình dung của nhiều người, ngay cả địch cũng không thể ngờ tới. Trải qua 7 năm (1968-1975), dưới sự chỉ huy của tướng Đinh đức Thiện, Đồng Sỹ Nguyên… bộ đội xăng dầu đã vượt qua những muôn vàn gian khổ và hy sinh đã xây dựng và quản lý vận hành được một tuyến đường ống chiến lược từ biên giới phía Bắc đến miềm Đông Nam Bộ với chiều dài hơn 5.000 km, cùng hơn 100 khu kho có sức chứa trên 300.000m3. Đường ống xăng dầu là một kỳ tích của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, biểu hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.

Tháng 9 năm 1974, ông làm Chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật.

Năm 1975, ông là đại diện Quân ủy Trung ương và bộ Tổng tư lệnh, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Công tác phát triển công nghiệp, kiến thiết đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1957 đến 1964, ông là Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng, Bí thư Đảng ủy và Giám đốc Khu công nghiệp Gang thép Thái nguyên chịu trách nhiệm quản lý xây dựng khu công nghiệp lớn nhất miền bắc lúc đó. Đây là khu Công nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép.

Về mặt chính quyền dân sự, năm 1969, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim, năm 1972 là Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Sau năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước.

Tại Đại hội Đảng IV (1976), ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1975 ông được Chính phủ giao nhiệm vụ tiếp quản các cơ sở vật chất và tài liệu của các công ty dầu khí tại miền Nam, đồng thời thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt; Năm 1976 là Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí, Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí (đến năm 1981). Ông cùng các cộng sự của mình là cựu Cục trưởng Cục Dầu khí đầu tiên, nhà khoa học Nguyễn văn Biên tham gia việc khởi thảo, hiện thực hóa Hiệp định hợp tác Việt Nam và Liên Xô về thăm dò, khai thác dầu khí tại lục địa Nam Việt Nam. Ông là người thích mạo hiểm, thích khám phá cái mới, ông hiểu ngành Dầu khí là ngành đặc thù, đòi hỏi công nghệ cao, tri thức tổng hợp: địa chất, vật lý, hóa học, kinh tế học, cơ khí, dịch vụ kỹ thuật ở tầm cao. Vì thế đích thân ông đi hầu hết các tỉnh thành trong cả nước để tìm địa điểm xây dựng cơ sở kỹ thuật cho ngành Dầu khí, cuối cùng xác định lấy Vũng Tàu làm nơi xây dựng hạ tầng ban đầu, đặc biệt làm cảng dầu khí cho Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro. Sự quyết đoán sáng suốt này tạo tiền đề quan trọng cho những kế hoạch tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí sau này.

Năm 1980 - 1982, ông được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam.

Năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (Việt Nam).

Ông qua đời ngày 20 tháng 1 năm 1987 do tai nạn giao thông.

Danh hiệu Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Ông cũng được nhà nước Việt Nam tặng thưởng các Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng I, Huân chương Chiến thắng hạng I, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có con gái là: 1. Phan Thu Lương, nguyên Phó Tổng Giám đốc của Công ty TNHH Đèn hình Orion-Hanel (OHPT)

2. Phan Thị Hòa, nguyên Ủy viên Hội đồng Quản trị, Trưởng ban Ban Kiểm soát Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam [1]

Con trai là : 1. Phan Đình Đức, Ủy viên Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, nguyên Tổng Giám đốc Tổng công ty CP Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN PVN.
  2. ^ Thủ tướng Chính phủ (11 tháng 9 năm 2010). “2031/QĐ-TTG Về việc bổ nhiệm Hội đồng thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” (bằng tiếng Việt). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]