Škorpion vz. 61

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Škorpion vz. 61
Submachine gun vz61.jpg
Loại Súng tiểu liên
Nguồn gốc  Tiệp Khắc
Lược sử hoạt động
Trang bị 1961 – Nay
Quốc gia sử dụng
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Miroslav Rybář
Năm thiết kế 1959
Nhà sản xuất Česká zbrojovka Uherský Brod (Czech), Zastava Arms (Serbia)
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng
  • 1,30 kg (vz. 61)
  • 1,28 kg (vz. 61 E)
  • 1,44 kg (vz. 82, vz. 83)
Chiều dài 517 mm báng mở / 270 mm báng gấp
Cỡ nòng 
  • 115 mm (vz. 61, vz. 61 E)
  • 113 mm (vz. 82, vz. 83)
Chiều rộng
  • 43 mm (vz. 61, vz. 61 E)
  • 49 mm (vz. 82, vz. 83)

Đạn
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng phản lực bắn, Thoi nạp đạn đóng
Tốc độ bắn
  • 850 viên/phút (vz. 61, vz. 61 E)
  • 900 viên/phút (vz. 82, vz. 83)
Sơ tốc
  • 320 m/s (vz. 61, vz. 61 E, vz. 82)
  • 292 m/s (vz. 83)
Tầm bắn hiệu quả 50–150 m (vz. 61,.32 ACP)
Cơ cấu nạp Hộp đạn rời 10 hay 20 viên
Ngắm bắn Điểm ruồi

Škorpion vz. 61 là loại súng tiểu liên do Miroslav Rybář thiết kế vào cuối những năm 1950 tại Tiệp Khắc. Súng được phát triển với mục đích trang bị một loại vũ khí tự vệ mạnh hơn súng ngắn nhưng cũng không quá cồng kềnh khó chịu cho các đơn vị không thuộc bộ binh khác nhau. Mẫu thử nghiệm đầu tiên hoàn thành năm 1959, nó được thông qua và chế tạo năm 1961 với tên SA Vz. 61 (Samopal Vzor 1961). Loại súng này được sử dụng trong nhiều đơn vị của lực lượng quân đội Tiệp Khắc cũng như được xuất khẩu với số lượng lớn. Nhiều lực lượng đặc nhiệm cũng thích dùng loại súng này do nó sử dụng loại đạn 7.65×17mm Browning (.32 ACP) có thể dễ dàng giảm âm đến im lặng khi bắn. Yugoslavia (sau là Serbia) hiện đang giữ bản quyền chế tạo loại súng này và nó cũng được trang bị với số lượng lớn cho các sĩ quan của nước này. Vz. 61 cũng được nhiều nhóm bị xem là khủng bố những người thích các loại vũ khí nhỏ dễ cất dấu cũng như yên lặng khi bắn sử dụng. Súng cũng có thể bắn bằng một tay.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Vz. 61 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn và bắn với thoi nạp đạn đóng. Nút điều chỉnh chế độ bắn của súng có 3 chế độ là khóa an toàn, phát một và tự động. Loại đạn mà súng sử dụng tạo ra rất ít độ giật điều này làm cho chơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn trở nên hiệu quả hơn khi nó không làm tăng lực giật của súng. Vỏ đạn sẽ được đẩy qua khe phía trên thân súng, nó cũng có thêm một lò xo để đẩy vỏ đạn ra ngoài tránh việc vỏ đạn không chịu văng ra ngoài. Súng sử dụng thoi nạp đạn có thể co giãn để giảm chiều dài của súng. Do ban đầu súng có tốc độ bắn đến 1000 viên/phút nên thoi nạp đạn sau đó đã được thiết kế để hãm tốc độ bắn xuống còn 850 viên/phút, việc này được thực hiện bằng hai lò xo nối tiếp nhau, một dùng để đẩy thoi nạp đạn và một dùng để đẩy lò xo trước. Khi thoi nạp đạn rút lại thì lò xo dùng để đẩy thoi nạp đạn bị đẩy nén vào lò xo phía sau nó vào tay cầm cò súng, sau đó lò xo của thoi nạp đạn sẽ bị đẩy về chỗ cũ trước sau đó mới đến thoi nạp đạn do quán tính sẽ giữ thoi nạp đạn đứng yên một thời gian ngắn trước khi lò xo đẩy có thể di chuyển nó.

Nút kéo lên đạn nằm ở hai bên thân súng. Hộp đạn của súng có hai hàng với nhiều mẫu có chiều dài khác nhau. Báng súng dạng khung có thể gấp lên trên để tiết kiệm không gian khi di chuyển cũng như có trọng lượng nhẹ nhất có thể.

Khi quân đội Tiệp Khắc thông qua việc sử dụng loại đạn 9×18mm Makarov của Liên Xô năm 1982 thì loại súng này đã được thiết kế lại một chút để có thể sử dụng loại đạn mạnh hơn này. Mẫu xuất khẩu của loại súng này thì sử dụng loại đạn 9×17mm (.380 ACP) thông dụng của phương Tây.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]