Ỷ Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ỷ Lan
Hoàng thái hậu Việt Nam
Hoàng thái hậu nhà Lý
Tại vị 1073 - 1117
Tiền nhiệm Thượng Dương thái hậu
Kế nhiệm Linh Chiếu Thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Lý Thánh Tông
Hậu duệ
Tên đầy đủ Xem trong bài
Tước hiệu Ỷ Lan phu nhân
Ỷ Lan thần phi
Ỷ Lan nguyên phi
Hoàng thái hậu
Thụy hiệu Linh Nhân hoàng hậu
靈仁皇后
Miếu hiệu Phù Thánh (扶聖)
Hoàng tộc nhà Lý
Thân phụ Lê Công Thiết
Thân mẫu Vũ Thị Tình
Sinh 7 tháng 3, 1044 (?)
Thổ Lỗi (trước thuộc Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội)
Mất 24 tháng 8, 1117
Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam
An táng Tháng 8 (âm lịch),năm Đinh Dậu(1117)Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Ỷ Lan (chữ Hán: 倚蘭, 10441117), là Hoàng hậu thứ 2 của Lý Thánh Tông, mẹ đẻ của vua Lý Nhân Tông trong lịch sử Việt Nam.

Bà đã hai lần đăng đàn nhiếp chính, khiến đất nước dưới triều Lý được hưng thịnh, những đóng góp cho hoàng triều Lý nhất là về Phật giáo và tài năng trị nước của bà đều được sử gia khen ngợi và tán dương.

Tuy vậy, để có thể có quyền hành nhiếp chính đất nước, bà đã mưu kế dựa vào Lý Thường Kiệt, phế truất và sát hại Thái hậu nhiếp chính tiền nhiệm là Thượng Dương Hoàng thái hậu. Việc làm này đã gây nên nhiều tranh cãi xung quanh bà.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi và xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện thơ nói về Ỷ Lan có tên là Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn (Văn diễn ca bằng quốc ngữ thần tích sao chép từ bản cổ Hoàng Thái hậu thứ ba triều Lý) của Trương Thị Trong thì bà có tên là Lê Khiết Nương [1]. Cũng có nguồn cho rằng bà có tên là Lê Thị Yến hay Lê Thị Khiết [2]. Tuy nhiên, bà được biết nhiều hơn qua cái tên Ỷ Lan (tên trong tước phong, và có nghĩa là "tựa vào cây lan").

Theo truyền thuyết, Ỷ Lan sinh ngày 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1044) tại hương Thổ Lỗi (sau đổi là Siêu Loại. Đời Nguyễn thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội)[3].

Tuy nhiên trong truyện thơ trên, không nói rõ bà sinh năm nào, chỉ cho biết cha bà họ Lê (có nguồn ghi tên là Lê Công Thiết), làm chức quan nhỏ ở kinh thành Thăng Long; và mẹ (truyện thơ chỉ ghi hiệu là Tĩnh Nương, có nguồn ghi tên là Vũ Thị Tình), là một người làm ruộng tại hương Thổ Lỗi.

Đến năm Ỷ Lan 12 tuổi, thì mẹ ốm mất; cha lấy mẹ kế họ Đồng, nhưng ít lâu sau ông cũng qua đời. Kể từ đó, bà chung sống với người mẹ kế, và hai người rất thương quí nhau [4].

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ toàn thư, quyển 3) chép:

..."Tục truyền rằng vua (Lý Thánh Tông) cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, mới đi chơi khắp chùa quán. Xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ đứng tựa trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu phong làm Ỷ Lan phu nhân"...[5].

Theo truyện thơ trên, thì đó là năm Giáp Thìn (1064), khi vua Lý Thánh Tông đến chùa Thổ Lỗi cầu tự và mở hội tuyển cung nữ. Song có nguồn cho rằng đó là vào mùa xuân năm 1063, khi vua đi cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), qua hương Thổ lỗi, ngài vén rèm nhìn ra, thấy từ xa có người con gái tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo...Sau khi đưa người con gái ấy vào cung...[2].

Lê thị vào cung, phong làm Ỷ Lan phu nhân (倚蘭夫人), nơi ở là Du Thiền các (逰蟾閣). Ỷ Lan (倚蘭) nghĩa là tựa vào gốc lan, Thánh Tông ban phong hiệu này làm lấy làm kỷ niệm của việc gặp gỡ năm xưa.

Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi, sai chi hội hậu nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa[6]...Nhà sư dạy cho Bông thuật đầu thai thác hóa, Bông nghe theo. Việc phát giác, đem chém Bông ở trước cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là Đồng Bông. Chùa ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm. Đồng Bông ở phía tây trước cửa chùa, nay hãy còn.

Mùa xuân, tháng Giêng, năm 1066, Ỷ Lan phu nhân sinh ra Hoàng tử Lý Càn Đức (李乾德). Ngày hôm sau, lập làm Hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá, và phong mẹ là Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi (宸妃).

Năm Mậu Thân, năm 1068, bà lại sinh ra Minh Nhân vương (明仁王), có thuyết sau đó là Sùng Hiền hầu. Thánh Tông cho đổi hương Thổ Lỗi làm hương Siêu Loại [7], và phong Thần phi làm Nguyên phi (元妃), đứng đầu các phi tần trong cung.

Địa vị bây giờ của Ỷ Lan chỉ sau Dương hoàng hậu.

Làm Nhiếp chính lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Tin cậy, trước khi đi nhà vua trao quyền điều khiển chính sự ở triều đình cho Nguyên phi, giúp sức có Lý Đạo Thành (李道成), là Thái sư đầu triều đương thời.

Ra trận, Thánh Tông đánh mãi không được, bèn lui binh. Khi đem quân về đến châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên), thì nghe tin Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hóa hòa hợp, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm.

Thánh Tông nói:...Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao!. Bèn quay lại đánh nữa, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và 5 vạn người dân.

Năm sau (1070), Chế Củ xin đem đất ba châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (tức vùng Quảng BìnhQuảng Trị) để chuộc tội. Giang sơn Đại Việt bước đầu mở rộng xuống phía Nam.

Mưu đoạt quyền bính[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Giêng, năm 1072, Thánh Tông hoàng đế lâm bệnh nặng rồi băng hà, thọ 48 tuổi, trị vì được 18 năm. Hoàng thái tử Lý Càn Đức kế nghiệp, sử gọi là Lý Nhân Tông.

Nhân Tông kế nghiệp khi mới 7 tuổi, nên tôn mẹ đích là Dương hoàng hậu làm Thượng Dương hoàng thái hậu (上楊皇太后), và để cho Thái hậu cùng dự việc triều chính[8], có Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc[5].

Ỷ Lan Nguyên phi được tôn làm Hoàng thái phi (皇太妃), không có quyền xen vào việc triều chính. Nhưng rồi, dưới lợi thế là mẹ đẻ của Hoàng đế, cùng sự liên kết với Thái úy Lý Thường Kiệt (李常傑), bà đã khiến Nhân Tông ra chiếu chỉ phế truất Thượng Dương thái hậu. Giam Thái hậu cùng 72 cung nhân khác vào lãnh cung. Đến khi phát tang chôn cất Thánh Tông hoàng đế, Thái hậu cùng các cung nhân bị buộc phải chôn theo.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ toàn thư, quyển 3) chép sơ lược việc này như sau:

"Quý Sửu (1073)...Giam Hoàng thái hậu họ Dương,...(bởi) Linh Nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?" Vua bèn sai đem giam Dương thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông...(còn) Thái sư Lý Đạo Thành lấy chức Tả gián nghị đại phu ra coi châu Nghệ An [9].

Làm Nhiếp chính lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi sát hại Thượng Dương Hoàng thái hậu, Ỷ Lan được tôn làm Hoàng thái hậu nhiếp chính. Lý Đạo Thành vốn là người phụ chính Thượng Dương thái hậu, Ỷ Lan cho là không nên dùng và biếm ông ra trấn thủ Nghệ An. Nhưng không lâu sau lại cho gọi về, ban chức Thái phó bình chương quân quốc trọng sự, để cùng với Thái úy phụ chính là Lý Thường Kiệt điều hành đất nước.

Năm 1705, Thái úy Lý Thường Kiệt, sau khi cử gián điệp thu thập tin tức của nhà Tống, đã tiến hành mang quân sang vây đánh Khâm châu và Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Phá tan kho lương thực và khí giới của nhà Tống ở Ung châu, giết hơn vạn dân và lui binh. Nhà Tống chấn động, quyết định tiến quân đánh trả Đại Việt.

Năm 1076, tướng quân Quách Quỳ (郭逵), một viên tướng dày dặ trận mạc cùng Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Đại Việt. Thế quân nhà Tống rất mạnh, quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã chống trả hết sức quyết liệt. Ông đã cử Lý Kế Nguyên đánh bại đội quân thủy của quân Tống sang kết hợp với quân đánh bộ của Quách Quỳ. Cuối cùng, Lý Thường Kiệt đánh bại được đội quân nhà Tống tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt. Năm 1077, Quách Quỳ chấp nhận cho Đại Việt giảng hòa và rút quân trở về.

Năm 1103), Hoàng thái hậu phát tiền ở kho nội phủ để chuộc con gái do nhà nghèo bị bán ở đợ, đem họ mà gả cho những người đàn ông góa vợ. Bà còn đề xuất lệnh cấm trộm trâu và giết trâu bừa bãi [5].

Vốn là người sùng đạo Phật, và là "người tu tại gia" [10]; về già, Hoàng thái hậu Ỷ Lan càng để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Tính đến năm (1115), bà đã cho xây cất 150 chùa, đền, trong đó có chùa Từ Phúc ở quê hương (Dương Xá, Gia Lâm) [2].

Vụ án Lê Văn Thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Văn Thịnh (黎文盛), là người đỗ đầu trong khoa thi đầu tiên của Nho học được triều đình tổ chức năm 1075, được bổ làm quan, dần trải đến chức Thái sư. Năm 1084, ông thành công trong việc bàn nghị về việc cương giới với quan nhà Tống, khiến nước này phải trả lại 6 huyện 3 động thuộc châu Quảng Nguyên cho Đại Việt. Tuy nhiên, ông sau đó bị phế truất chức vụ và bị đày đi nơi xa vào năm 1096, đó là vụ án hồ Dâm Đàm.

Vụ án trên, lâu nay người ta đã bàn nhiều, có người nói vì ông bị nghị kỵ, nên bị hạ bệ [11]. Có người nói ông là nạn nhân bởi sự xung đột ý thức hệ giữa Phật giáo. Phật giáo được đề cao, được bảo trợ bởi Thái hậu Ỷ Lan. Còn Nho giáo được du nhập khá mới, sớm nhất vào đời Thánh Tông hoàng đế nên bị hạn chế, mà Lê Văn Thịnh là người đứng đầu phái này[12].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1117, Thái hậu qua đời, thọ khoảng 73 tuổi, thụy hiệu của bà là Linh Nhân hoàng hậu (靈仁皇后). Sau đó, triều đình làm lễ hỏa táng, có ba người hầu gái được chôn theo [13].

Mùa thu, tháng 8, cùng năm ấy, chôn Linh Nhân hoàng hậu ở Thọ lăng, thuộc phủ Thiên Đức (nay là đất huyện Tiên Sơn, thuộc Bắc Ninh)[5].

Câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Một lần vua Lý Thánh Tông hỏi Ỷ Lan về kế trị nước, Ỷ Lan tâu:

Muốn nước giàu dân mạnh, điều quan trọng là phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần. Lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh...Phải xem quyền hành là một thứ đáng sợ. Quyền lực và danh vọng thường làm thay đổi con người. Tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh. Dân bắt trước người trên thì nhanh hơn pháp luật. Muốn nước mạnh hoàng đế phải nhân từ với muôn dân. Phàm xoay cái thế thiên hạ ở nhân chứ không phải ở bạo. Hội đủ những điều ấy, nước Đại Việt sẽ vô địch.[14]

—Ỷ Lan

Nghe xong Lý Thánh Tông rất phục.

Được tôn thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiếp chính Ỷ Lan (cải lương)

Cảm ơn đức cao dày của Hoàng thái hậu Ỷ Lan, nhân dân đã tôn vinh bà như là "Quan Âm bồ tát " tái hiện, hoặc đồng hóa với "cô Tấm" trong truyện cổ tích, hoặc với "Phật mẫu Man Nương" [15].

Bà được tôn thờ ở một số nơi, nhưng đáng kể hơn cả là "Cụm di tích Đền-Chùa Bà Tấm" ở quê hương bà (Dương xá, Gia Lâm, Hà Nội). Ngôi chùa có tên là "Linh Nhân tư Phúc tự" (dân gian thường gọi là "chùa Bà Tấm"), được bà cho xây dựng vào năm 1115. Đến khi bà qua đời (1117), ngôi đền thờ bà cũng được xây dựng tại đây. Từ đó đến nay, cụm đền chùa này là nơi thờ Phật, và cũng là nơi tưởng niệm bà [16].

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh công lao ổn định và phát triển đất nước, bà Ỷ Lan còn có hai việc nổi bật đã được sử cũ biên chép, đó là việc "chuộc người" (năm 1103) và việc "đề xuất lệnh cấm trộm trâu và giết trâu bừa bãi" (năm 1117) như đã kể trên. Việc thứ nhất, được sử thần Ngô Sĩ Liên khen là: "Thái hậu đổi đời cho họ, cũng là việc làm chân chính vậy" [17]. Còn việc thứ hai khiến nhiều người dân càng kính trọng và biết ơn bà, bởi "con trâu là đầu cơ nghiệp" [15].

Tuy nhiên, trong trang sử đời bà không khỏi có một vết đen, đó là việc giết chết Thái hậu Thượng Dương và 76 người thị nữ. Tục truyền rằng bà rất hối về việc này nên đã làm nhiều chùa Phật để sám hối, rửa oan [18].

Xét khía cạnh khác, qua bài kệ của bà còn lưu lại trong cuốn Thiền uyển tập anh, đã chứng tỏ bà không chỉ là người "hiểu sâu tôn chỉ" [19] đạo Phật, mà còn là người giỏi chữ nghĩa. Và theo GS. Nguyễn Khắc Thuần, "chính những lời đối đáp giữa bà với các bậc cao tăng đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc ra đời của sách Thiền uyển tập anh rất có giá trị sau này"[20].

Giới thiệu bài kệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài kệ không có đầu đề (đầu đề do người sau thêm vào, có sách ghi là Kệ Sắc không), được Ỷ Lan làm sau khi đàm đạo với đại sư Thông Biện về những tôn chỉ của đạo Thiền.

Phiên âm Hán-Việt:
Sắc thị không, không tức sắc,
Không thị sắc, sắc tức không.
Sắc không quân bất quản,
Phương đắc khế chân không.
Bản dịch:
Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc không đều chẳng quản
Mới được hợp chân tông.

Với bài kệ trên, Ỷ Lan đã được các nhà nghiên cứu văn học Việt xếp vào hàng "tác gia văn học thời -Trần"[21]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo truyện thơ "Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn" in trong Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu của mẹ bà là "Tĩnh Nương", thì có thể "Khiết Nương" cũng chỉ là hiệu. Mà cũng có thể "nương" của cả hai ở đây chỉ là tiếng đệm theo tên (dùng cho nữ) theo gọi cách gọi của người xưa.
  2. ^ a ă â Theo bài viết "Ỷ Lan-Vị Nguyên phi có tài trị nước, an dân" trên website Thăng Long-Hà Nội [1]. Thông tin thêm: Một học giả người Tống là Thẩm Hoạt trong sách Mộng khê bút đàm (quyển 2) ghi tên bà là Lê Thị Yến Loan, nhưng học giả Hoàng Xuân Hãn cho biết đó chỉ là cách phiên âm từ tên Ỷ Lan mà thôi (tr. 76).
  3. ^ Xem thêm mục từ "Vùng đất Siêu Loại" trên webste Tri thức Việt: [2].
  4. ^ Theo truyện thơ "Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn".
  5. ^ a ă â b Đại Việt sử ký toàn thư (bản dịch, quyển I, phần "Thánh Tông Hoàng đế" và "Nhân Tông Hoàng đế").
  6. ^ Chùa Thánh Chúa ở Dịch Vọng, nay thuộc phường Dịch Vọng, huyện Cầu Giấy, Hà Nội.
  7. ^ Siêu Loại, nghĩa là "vượt lên trên đồng loại" (GS. Nguyễn Khắc Thuần giải thích, tr. 32).
  8. ^ Theo Đại Việt sử lược, tr. 158.
  9. ^ Đại Việt sử lược (tr. 162) chép tương tự. Cũng theo sách này thì Thái hậu Thượng Dương và 72 cung nữ ở cung Thượng Dương đều bị "bắt đem chôn sống theo vua Thánh Tông".
  10. ^ Theo GS. Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam (tập 1). NXB Giáo dục, 2005, tr. 242.
  11. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 395.
  12. ^ Xem chi tiết ở đây: [3].
  13. ^ Sử thần Ngô Sĩ Liên thắc mắc: "Hỏa táng là lễ đạo Phật, chôn theo là tục nhà Tần, Nhân Tông đều làm theo, hoặc giả vâng lời dặn lại của Thái hậu chăng?" (tr. 303).
  14. ^ Các triều đại Việt Nam, Quỳnh Cư-Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh niên 2005
  15. ^ a ă Theo Các nữ thần Việt Nam, truyện "Ỷ Lan", tr. 112.
  16. ^ Xem chi tiết ở đây: [4].
  17. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, tập I, tr. 298
  18. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Bản dịch, tập I), tr. 301.
  19. ^ Chữ trong Thiền uyển tập anh, truyện "Quốc sư Thông Biện".
  20. ^ Việt sử giai thoại (tập 2, tr. 34). Xem thêm truyện "Quốc sư Thông Biện" trong Thiền uyển tập anh.
  21. ^ Theo sách Văn học thể kỷ X-XIV do PGS. TS. Nguyễn Đăng Na làm chủ biên. Nxb Khoa học xã hội, 2004.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]