'N Sync

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
*NSYNC
Nguyên quán Orlando, Florida, dance-pop, teen pop, soul, acapella[1]
Năm 1995–2002
Hãng đĩa RCA (1998-1999)
Jive (1999-2002)
Hợp tác Britney Spears, Backstreet Boys, Christina Aguilera, Aaliyah
Website nsync-world.com
Thành viên cũ
Justin Timberlake
Chris Kirkpatrick
Joey Fatone
Lance Bass
JC Chasez

*NSYNC (trước đây được viết là 'N Sync như những logo nổi tiếng của họ) là một boyband nhạc pop. Thành lập tại Orlando, Florida năm 1995 và bắt đầu sự nghiệp tại Đức bởi BMG Ariola Munich,[2] *NSYNC gồm 5 thành viên là JC Chasez, Justin Timberlake, Lance Bass, Joey FatoneChris Kirkpatrick, sau đó trở nên ban nhạc có lượng đĩa bán ra nhiều thứ ba trong lịch sử âm nhạc (sau Backstreet BoysNew Kids on the Block). Sau một cuộc tranh chấp thương mại kéo dài và được thông tin đại chúng với Lou Pearlman và công ty Sony BMG, album thứ hai của nhóm No Strings Attached đã bán được hơn 1 triệu album trong một ngày và 2.42 triệu trong tuàn đầu tiên ra mắt, khiến ban nhạc lập kỉ lục mọi thời đại về lượng album bán được trong tuần đầu tiên.[3][4] Không chỉ tham gia dẫn chương trình buổi lễ trao giai Grammy, *NSYNC từng biểu diễn tại giải Academy Awards, World Series, Super BowlThế vận hội mùa đông năm 2002, thể hiện cùng Elton John, Mandy Moore, Aerosmith, Mary J Blige, Britney Spears, Nelly, Michael Jackson, The Jacksons, Stevie Wonder, Celine Dion, và Gloria Estefan. Ban nhạc cũng xuất hiện trong The Simpsons, tập "New Kids on the Blecch", phát sóng ngày 25 tháng 2 năm 2001. *NSYNC đã bán được tổng cộng hơn 56 triệu album, và là một trong những boyband được thương mại, cũng như được hoan nghênh nhều nhất.

Khi *NSYNC tuyên bố sự "gián đoạn tạm thời" xuân năm 2002, nhóm không hề sản xuất nhạc từ đó. Website của nhóm biến mất hè năm 2006, và đến 2007, trong cuốn hồi ký của mình, Lance Bass xác nhận nhóm đã tan rã[5] Tháng ba năm 2010, Website cũ của nhóm được dựng lại, cập nhật dự án của các thành viên.

Các thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • JC Chasez – Ca sĩ chính thứ 1/1st Tenor
  • Justin Timberlake – Ca sĩ chính thứ 2/2nd Tenor
  • Chris Kirkpatrick – Ca sĩ/Counter-Tenor
  • Joey Fatone – Ca sĩ/Baritone
  • Lance Bass – Ca sĩ/Bass

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1995-1996: Thành lập nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chứng kiến Chris Kirkpatrick trình diễn trong một nhóm hòa nhạc doo-wop ở Universal Studios, Lou Pearlman tìm cách tiếp cận và bàn luận với anh về việc thành lập một ban nhạc pop mới. Pearlman hứa sẽ đàu tư tài chính cho nhóm nếu Kirkpatrick giúp ông tìm các các ca sĩ trẻ khác. Kirkpatrick liền gọi Joey Fatone, một người bạn anh quen khi còn làm việc ở Universal Studios. Sau đó, Fatone và Kirkpatrick nhờ Lou Pearlman giúp đỡ. Pearlman tìm một số đoạn băn mà họ có, và Justin Timberlake từ Mickey Mouse Club, khi đó mới 14 tuổi, gây ấn tượng mạnh với họ, Timberlake sau đó gia nhập ban nhạc, và gợi ý người bạn JC Chasez, người cùng đóng Mickey Mouse Club với anh. Nhóm tìm một ca sĩ có giọng bass, và ban đầu, thành viên thứ năm là Jason Galasso. Sau một vài buổi thử giọng, nhóm kí hợp đồng với hãng đĩa Trans Continental của Pearlman và đăng kí những buổi biểu diễn. Tuy nhiên, Galasso sau đó bỏ cuộc, tuyên bố trở nên thần tượng cho giới trẻ chưa bao giờ là mục tiêu của anh ta[6] Thiếu giọng bass, nhóm đã thử giọng với một số ứng viên, nhưng khoong phù hợp. Giáo viên luyện thanh cho Justin Timberlake sau đó gợi ý chàng trai 16 tuổi Lance Bass đến từ Mississippi. Bass liền bay tới Orlando để thử giọng, và ngay sau đó đã được nhận vào nhóm.

Tên *NSYNC được đặt khi mẹ của Timberlake bình luận "nhóm hát cùng nhau nghe rất tuyệt" (nguyên văn "how "in sync" their voices were"). Tên nhóm cũng được đặt theo chơi chữ, bằng cách ghép các chữ cái cuối cùng trong tên các thành viên: JustiN, ChriS, JoeY, JasoN, và JC.[6] Ban nhạc sau đó đặt nickname cho Bass là "Lansten" cũng vì lí do này, cho dù các người hâm mộ chủ yếu vẫn gọi anh bằng tên "Lance".

Pearlman sắp xếp cho nhóm một căn nhà ở Orlando. Hằng ngày nhóm có lịch luyện tập dày đặc, với các buổi luyện thanh, học vũ đạo. Nhóm quảng bá cho buổi biểu diên đầu tiền trước công chúng tại đảo Pleasure ngày 22 tháng 10 năm 1995. Pearlman thuê Johnny Wright, quản lí của Backstreet Boys, để quản lí cho nhóm. *NSYNC gây ăn tượng cho Wright bằng cách gửi cho Wight 2 bản thu âm demo của họ "I'll Be Back for More" và "We Can Work It Out". Nhóm biểu diễn trước ông ta và các thành viên của Sony BMG. Mặc dù Sony BMG thắc mắc về tên gọi của ban nhạc, cũng như khả năng trình diễn vũ đạo chua được thuần thục của Bass, tuy vậy cuối cùng BMG Ariola Munich kí hợp đồng với *NSYNC với Wright là quản lí chính thức[7]

1996-2000: *NSYNC[sửa | sửa mã nguồn]

1996-1998: Những thành công ban đầu ở Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi kí hợp đồng với BMG Ariola Munich, nhóm bay sang Thuỵ Điển để bắt đầu thu âm, cùng với các nhà sản xuất như Denniz Pop, Max MartinAndreas Carlsson. Đĩa đơn chính thức đầu tiên, "I Want You Back", được tung ra ở Đức ngày 7 tháng 10 năm 1996, tiến vào top 10 bảng xếp hạng của Đức ngày 18 tháng 11 năm 1996.[8] Với hợp đônf mới, *NSYNC bắt đầu tour diễn, ban đầu là ở các nước nói tiếng Đức, sau đó là toàn châu Âu. Album *NSYNC (album) ban đầu được tung ra bởi hãng đĩa BMG Ariola Munich ngày 12 tháng 3 năm 1997, ở Germany, nắm giữ vị trí số 1 trong tuần thuứ 2 sau khi ra mắt.[9] Trong một thời gian, ban nhạc đã nổi tiếng toàn Châu Âu.[10] Album cũng đạt được thành công ở khối Đức, Áo, Thụy Sỹ, bán được 820,000 bản.[11][12] Nhóm tung ra đĩa đơn thứ 2 và thứ 3, "Tearin' Up My Heart" và "Here We Go", cả hai đều lọt vào top 10 ở nhiều nước Châu Âu. "Tearin' Up My Heart" trở nên hit thành công nhất cua *NSYNC trong thời kì này.[13][14] *NSYNC được Vincent DeGiorgio, thành viên của A&R rep for RCA Records, để mắt tới. Sau khi chứng kiến nhóm biểu diễn ở Budapest, ông kí với nhóm hợp đồng với RCA năm 1998. Nhóm ghi âm một số ca khúc khác, để hãng đĩa này tung ra album, tiến vào thị trường Hoa Kì.

1998-1999: Tấn công vào thị trường Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn đầu, "I Want You Back" được tung ra này 20 tháng 1 năm 1998. Nó đạt hạng 13 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Album *NSYNC theo sau, ra mắt ngày 24 tháng 3 năm 1998. Lượng đĩa bán ra của album không nhiều Billboard 200, nhưng tăng vọt sau khi Disney Channel mời họ biểu diễn ngày 18 tháng 6 năm 1998, buổi hòa nhạc này, ban đầu được dự tính sẽ dành cho Backstreet Boys. Ba tuần trước sự kiện này, album đứng hạng 85, nhưng kể từ buổi hòa nhạc, ba tuần sau album vươn lên vị trí thứ 9. Sáu tháng sau, nhóm nằm trong Top 10.[cần dẫn nguồn] Tháng 4 cùng năm, "Tearin' Up My Heart" được tung ra như đĩa đơn thứ hai. Ngay sau đó, "Tearin' Up My Heart" thường xuyên được yêu cầu trên radio bởi các thính giả và phát sóng thường xuyên trên MTV cũng như Total Request Live. Ca khúc trở nên một hit lớn, đạt hạng 2 vào tháng 10 năm 1998. Sau đó, *NSYNC tổ chức lưu diễn ở nhiều nơi, họ thậm chí tham gia tour The Velvet Rope Tour của Janet Jackson. Album được RIAA chứng nhận đĩa Kim Cương nhờ bán được hơn 10 triệu bản.[15]. 'Tearin' Up My Heart' sau này đứng thứ hạng 30 trong danh sách "100 Greatest Songs of The 90's" của VH1 vào năm 2007, chín năm sau.

Nhóm tham gia vào một trong một số show truyền hình, như Sabrina The Teenage Witch vào tháng 2 năm 1999, khi đó họ đã trình diễn "Tearin' Up My Heart" và "God Must Have Spent a Little More Time on You." *NSYNC cũng góp mặt với ca khúc "Somewhere, Someday," trong Pokémon: The First Movie. Tháng 11 năm 1998, ban nhạc tung ra album hè của họ, Home for Christmas. Album vươn lên đứng hạng 7 và bán được 2 triệu bản.[15] Với thành tích này, *NSYNC đạt được kỉ lục có cùng lúc có hai album cùng nằm trong bảng xếp hạng Billboard Top 10.

Tháng 1 năm 1999, "God Must Have Spent A Little More Time on You" được tung ra thư đĩa đơn thứ ba. Thàng 2 cùng năm, ca khúc đạt vị trí thứ 8. Nhóm nhạc đồng quê Alabama sau đó cover lại ca khúc với giọng hát của *NSYNC, tung ra như đĩa đơn thứ tư. Đĩa đơn cuối cùng từ album, "I Drive Myself Crazy", sau đó cũng được tung ra ở thị trường Hoa Kỳ.

Tháng 9 năm 1999, nhóm công tác với Gloria Estefan sản xuất Music of the Heart, nhạc phim của bộ phim cùng tên của Estefan. Ca khúc sau đó vươn lên vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard's Top-100, đóng vai trò như bước đệm giữa hai album phòng thu của *NSYNC.

Tranh chấp với Lou Pearlman[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1998, *NSYNC sắp xếp một vụ kiện không lồ chống lại Lou Pearlman,[16] và công ty thu âm Trans Continental của ông ta, họ tin rằng ông ta thiếu minh bạch và lừa đảo hơn năm-mươi phần trăm thu nhập ban nhạc kiếm được, trong khi hợp đồng cho thấy ông ta hứa chỉ giữ một-phần-sáu tổng lợi nhuận.[16] Nhóm đe dọa sẽ rời Transcon và kí hợp đồng với Jive Records, việc này khiến Pearlman và RCA kiện ngược lại *NSYNC $150 triệu và đòi quyền giữ tên ban nhạc.[17]. Đòi hỏi của Pearlman và RCA đã không được chấp nhận, và *NSYNC thắng kiện[16] Sau khi đạt được một số thỏa thuận với RCA,[18] *NSYNC kí với Jive.[19]

2000-2001: Thành công đột phá với No Strings Attached và "Bye Bye Bye"[sửa | sửa mã nguồn]

Bỏ vụ kiện với Pearlman lại đằng sau, *NSYNC tập trung làm việc và bắt đầu thu âm album thứ hai của mình. Tháng 1 năm 2000, nhóm tung ra "Bye Bye Bye", một ca khúc pop dance, lọt vào top 5 bảng xếp hạng Hot 100 và đứng đầu Hot 100 Airplay trong 5 tuần liền. "Bye Bye Bye" trở nên ca khúc nổi tiếng nhất của *NSYNC.

They performed at the Latin Grammy show in 2001 singing the Spanish version of their song, This I Promise You, "Yo Te Voy Amar."

Sau một số lần trì hoãn, No Strings Attached được tung ra ngày 21 tháng 3 năm 2000. Nó bán được 2.42 triệu bản trong tuần đàu ra mắt.[3][4] Đến cuối năm 2000, nó đã bán được 9.9 triệu bản.[20] No Strings Attached vừa là album bán chạy nhất năm 2000, vừa là một trong những album bán chạy nhất thập niên.[20] No Strings Attached hiện tại đứng thứ 8 về lượng đĩa bán ra của thời kì SoundScan, được chứng nhận đĩa Kim Cương từ RIAA nhờ hơn 11 triệu đĩa được bán ra toàn cầu.[21] Album cũng được Amazon.com công nhận được đặt hàng nhiều nhất mọi thời đại.[22]

Các đĩa đơn khác cũng đạt được nhiều thành công. Đĩa đơn thứ hai, "It's Gonna Be Me", trở nên ca khúc đầu tiên của nhóm đạt được vị trí số 1 bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Đĩa đơn cuối cùng từ album, bản ballad "This I Promise You" cũng là một hit, đạt được vị trí thứ 5 trên Billboard's Top-100.

Ban nhạc cũng tổ chức tour diễn khổng lồNo Strings Attached Tour. MTV tổ chức một vài chương trình đặc biệt, tổ chức phóng sự những diến biến sau cánh gà, sau này được *NSYNC phát hành dạng đĩa DVD. Chưa hết, tour của nhóm tiết tục được chiếu bởi một chương trình đặc biệt khác của HBO, bắt đầu phát sóng khi hit "It's Gonna Be Me" vươn lên vị trí số 1 trên các bảng xếp hạng...

2001-2002: Celebrity and "Pop"[sửa | sửa mã nguồn]

Album thứ ba của *NSYNC, Celebrity, được tung ra ngaỳ 24 tháng 6 năm 2001, với ba đĩa đơn: "Pop" (hạng 19), "Gone" (hạng 11) and "Girlfriend" (hạng 5). Album lần này đặc biệt hơn vì được các thành viên trong nhóm đóng góp nhiều trong việc sản xuất, đặc biệt là Chasez và Timberlake, cả hai viết đa số các bài hát được phát hành trong album. Tuy được các nhà bình luận đánh giá cao, nhưng Celebrity không bán được nhiều bằng No Strings Attached, với 1.9 triệu bản được phát hành trong tuần đầu. Dù sao, chừng đó cũng đủ để "Celebrity" đứng hạng 1 Billboard 200.

Album được chú ý nhiều, một phần vì *NSYNC bắt đầu chuyển qua thể loại hip-hop nhiều hơn. Rapper Nelly hợp tác cùng ban nhạc trong một bản remix khác của đĩa đơn "Girlfriend".

Để quảng bá cho Celebrity, nhóm bắt tay vào tour diễn kéo dài bốn tháng Pop Odyssey Tour. Tour diễn bắt đầu từ tháng 4, hai tháng trước khi album được ra mắt. Hơn hai triệu fan hâm mộ đã đến dự tour. Chuyến lưu diễn sau này được phát hành dưới dạng đĩa DVD Pop Odyssey Live.

2002-nay: Sự gián đoạn và tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2002, sau tour diễn Celebrity, ban nhạc quyết định dành 6 tháng nghỉ ngơi. Ban đầu họ dự tính sẽ trở lại phòng thu vào tháng 10, nhưng sau đó họ quyết định kéo dài thời gian này, vì Justin Timberlake muốn tập trung vào sự nghiệp hát solo của mình. Nhóm vẫn thường xuyên đi dự các sự kiện lớn và nhận các giải thưởng cùng nhau, và trở lại tại Grammy Awards năm 2003 để hát Bee Gees Medley để tri ân Bee Gees. Đó là lần cuối cùng họ có buổi biểu diễn được phát sóng qua truyền hình. Buổi trình diễn cuối cùng của *NSYNC trước công chúng là tại "Challenge for the Children" vào năm 2004, khi đó họ đã trình bày "The Star Spangled Banner". Năm 2005, *NSYNC trở lại lần cuối, cũng dịp "Challenge for the Children", nhưng không trình diễn ca khúc nào.

Mùa thu năm 2005, *NSYNC phát hành ra Greatest Hits, bao gồm ca khúc "I'll Never Stop", chưa từng được ra mắt ở Hoa Kỳ. Tháng 1 năm 2010, họ phát hành "The Collection" chỉ bao gồm các đĩa đơn đã tung ra ở Anh.

Trong hồi ký "Out of Sync" của mình, Lance Bass tuyên bố Justin Timberlake là lý do duy nhất khiến cho *NSYNC không thể tái hợp.[cần dẫn nguồn]

Marketing[sửa | sửa mã nguồn]

  • NSYNC từng là một thương hiệu lớn, họ giữ bản quyền một số lượng lớn các mặt hàng có tên họ, gồm các board games, microphone, bơm môi, con rối, sách, dây mọc chìa khóa, chắn gối, quần áo, trờ chơi điện tử[23] và nhiều thứ khác. Ban nhạc từng có hợp đồng quảng bá thường mại với McDonald's, Chili's Grill & Bar, trong đó các thành viên xuất hiện trong quảng cáo của Chili's, ngược lại Chili's giúp tài trợ các chuyên tour của họ.[cần dẫn nguồn]

Danh sách các album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 97-98: *NSYNC
  • 1998: Home for Christmas
  • 2000: No Strings Attached
  • 2001: Celebrity

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Celebrity *NSYNC”. Amazon.com. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007. 
  2. ^ “Biography:Lance Bass”. Film.com. 
  3. ^ a ă Huhn, Mary (20 tháng 11 năm 2000). “BACKSTREET BOYS WANT TO BEAT *NSYNC'S MARK”. New York Post Online. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ a ă “NSync's Biography on Billboard”. Billboard Magazine. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ Abbott, Jim. “Lance Bass Book Comes Out”. The Orlando Sentinel. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2007. 
  6. ^ a ă “VH1's Driven's *NSYNC Episode Summary”. VH1.com. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  7. ^ “Artist Biography - *NSYNC”. Billboard. 
  8. ^ “CHARTS-DEUTSCHLAND:Single Top 100 (18.11.1996)” (bằng tiếng Đức). Charts.de. 
  9. ^ “CHARTS-DEUTSCHLAND:Album Top 100 (09.06.1997)” (bằng tiếng Đức). Charts.de. 
  10. ^ http://www.starpulse.com/Music/*NSYNC/Biography/
  11. ^ “*NSYNC - *NSYNC (ALBUM)”. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010. 
  12. ^ N Sync's Inderect Path to the Top. Billboard Magazine. 20 tháng 3 năm 1999. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010. 
  13. ^ “*NSYNC - TEARIN' UP MY HEART”. GfK Dutch Charts. 
  14. ^ “'N SYNC - HERE WE GO”. GfK Dutch Charts. 
  15. ^ a ă “Gold and platinum”. RIAA. 
  16. ^ a ă â Manning, Kara. “'N Sync Scores Small Victory As Legal Battle Begins”. MTV News, November 24, 1999. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2007. 
  17. ^ Wolk, Josh. (13 tháng 10 năm 1999). “'N Court”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007. 
  18. ^ Rolling Stone Dec 29, 1999 N Sync and Trans Con Settle N Sync vs. Trans Con: the music biz's nastiest legal battle of the decade
  19. ^ “Zomba Records, LTD: Company History”. FundingUniverse.com. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2007. 
  20. ^ a ă “Linkin Park beats out pop acts for No. 1 album of 2001”. Live Daily. 4 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  21. ^ “Gold and Platinum”. RIAA. 
  22. ^ “MEDIA ALERT/'N Sync Breaks Sales Records AtAmazon.com.”. AllBusiness.com. 31 tháng 3 năm 2000. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2010. 
  23. ^ “PC Game Overview: 'N Sync Hotline”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]