16 Psyche

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
16 Psyche 16 Psyche symbol.svg
16Psyche (Lightcurve Inversion).png
Mô hình ba chiều dựa trên đường cong ánh sáng của 16 Psyche.
Khám phá
Khám phá bởi Annibale de Gasparis
Ngày khám phá 17 tháng 3, 1852
Tên chỉ định
Phiên âm /ˈsk/ SY-kee
Đặt tên theo Psychē
Tên thay thế không có
Danh mục tiểu hành tinh Vành đai chính
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Kỷ nguyên October 22, 2004 (JD 2453300.5)
Viễn điểm quỹ đạo 3.328 AU (497.884 Gm)
Cận điểm quỹ đạo 2.513 AU (375.958 Gm)
Bán trục lớn 2.921 AU (436.921 Gm)
Độ lệch tâm 0.140
Chu kỳ quỹ đạo 4.99 năm (1823.115 d)
Tốc độ vũ trụ cấp 1 17.34 km/s
Độ bất thường trung bình 323.379°
Độ nghiêng quỹ đạo 3.095°
Kinh độ của điểm nút lên 150.352°
Acgumen của cận điểm 228.047°
Đặc trưng vật lý
Kích thước 240×185×145 km[2]
186 km (Geometric mean)
253.2 ± 4 km (IRAS)[1]
Khối lượng 2.27×1019 kg[2]
Khối lượng riêng trung bình

6.49 ± 2.94 g/cm³[2]

3.3 ± 0.7 g/cm³[3]
Hấp dẫn bề mặt ~0.06 m/s²[cần dẫn nguồn]
Tốc độ vũ trụ cấp 2 ~0.13 km/s[cần dẫn nguồn]
Chu kỳ tự quay 0.1748 d (4.196 h)[1][4]
Suất phản chiếu 0.120 (geometric)[1]
Nhiệt độ ~160 K
max: ~280 K (+7 °C)[cần dẫn nguồn]
Kiểu phổ M[1]
Cấp sao biểu kiến 9.22 to 12.19
Cấp sao tuyệt đối (H) 5.90[1]

16 Psyche là một trong mười tiểu hành tinh có khối lượng lớn nhất trong vành đai tiểu hành tinh. Nó có đường kính hơn 200 km và chứa xấp xỉ 1% khối lượng của cả vành đai. Nó còn là tiểu hành tinh kim loại kiểu M có khối lượng lớn nhất. Psyche được Annibale de Gasparis phát hiện vào ngày 17 tháng 3 năm 1852 tại Napoli và được đặt tên theo Psyche, một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp.

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Mười lăm tiểu hành tinh đầu tiên được phát hiện đã được các nhà thiên văn học gắn cho các biểu tượng như một cách để ký hiệu nhanh. Nhưng vào năm 1851, J. F. Encke đã đề nghị sử dụng các con số, và 16 Psyche trở thành tiểu hành tinh đầu tiên được ký hiệu theo cách này (vào năm 1852 bởi J. Ferguson).[5] Tuy nhiên Psyche, cũng như một số tiểu hành tinh khác được phát hiện trong những năm tiếp đó, vẫn được gắn cho một biểu tượng riêng. Trong biểu tượng của Psyche, nửa vòng tròn tượng trưng cho cánh bướm, biểu tượng của tâm hồn (psyche trong tiếng Hy Lạp nghĩa là 'tâm hồn'), và hình sao tượng trưng cho một ngôi sao.[6]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Mô phỏng quỹ đạo của Psyche.

Những quan sát qua ra-đa cho thấy Psyche có cấu tạo hoàn toàn bằng sắt-niken.[7][8] Khác với một số tiểu hành tinh kiểu M khác, Psyche không có bất kỳ dấu hiệu nào về sự tồn tại của khoáng vật chứa nước trên bề mặt của nó, điều này phù hợp với nhận định rằng nó là một vật thể kim loại.[9] Có thể tồn tại một lượng ít pyroxen.[10]

Do đó có vẻ như Psyche là lõi kim loại của một vật thể lớn hơn đã bị phá hủy. Nếu điều này là đúng sẽ có những tiểu hành tinh khác có quỹ đạo tương tự với nó. Tuy nhiên Psyche không nằm trong nhóm tiểu hành tinh nào cả.[11] Một giả thuyết cho rằng cú va chạm hình thành nên Psyche xảy ra rất sớm trong lịch sử Hệ Mặt Trời, và tất cả những mảnh vỡ khác đã bị những vụ va chạm sau đó nghiền nát.

Psyche đủ lớn để có thể tính toán được tác động của nó lên các tiểu hành tinh khác, điều này cho phép ước lượng khối lượng của nó. Theo số liệu của IRAS, Psyche có đường kính 253 km.[1] Quan sát sự che khuất sao của nó cho thấy kích thước 214×181 km,[12] nhỏ hơn những tính toán ban đầu, dẫn đến tỷ trọng lớn hơn và phù hợp với một tiểu hành tinh kim loại.[2][3] Có vẻ như Psyche có bề mặt khá đồng đều và có dạng ellipsoid. Kết quả phân tích đường cong ánh sáng gần đây cho thấy điểm cực của Psyche hướng về tọa độ hoàng đạo (β, λ) = (−9°, 35°) hoặc (β, λ) = (−2°, 215°) với khoảng chênh lệch 10°,[13] khiến trục quay của nó nghiêng 95°.

Hai lần Psyche che khuất sao đã được quan sát từ Mexico vào hai ngày 22 tháng 3 và 16 tháng 5 năm 2002. Những đường cong ánh sáng khác nhau cho thấy Psyche không có dạng cầu, điều này phù hợp với kết quả ra-đa.

Có khả năng ít nhất một vài mẫu thiên thạch enstatite chondrite có nguồn gốc từ Psyche do chúng có kết quả phân tích phổ học tương đồng với tiểu hành tinh này.

Thăm dò[sửa | sửa mã nguồn]

Chưa có tàu vũ trụ nào ghé thăm Psyche.[14] Một nhóm các nhà khoa học do Lindy Elkins-Tanton dẫn đầu đã đề xuất một tàu vũ trụ không người lái bay xung quanh tiểu hành tinh này. Họ cho rằng Psyche cần được nghiên cứu vì nó là vật thể kim loại duy nhất từng được phát hiện.[14] Tàu vũ trụ được đề xuất sẽ bay xung quanh Psyche trong 6 tháng để nghiên cứu địa hình, đặc điểm bề mặt, lực hấp dẫn, từ tính và những đặc tính khác của tiểu hành tinh này. Họ đã tiến hành kế hoạch được một năm rưỡi và dự định sẽ đệ trình lên Chương trình Khám phá của NASA.[15]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “JPL Small-Body Database Browser: 16 Psyche”. 2008-09-19 last obs. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2008. 
  2. ^ a ă â b Jim Baer (2011). “Recent Asteroid Mass Determinations”. Personal Website. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ a ă Lupishko, D. F. (2006). “On the bulk density and porosity of M-type asteroid 16 Psyche”. Solar System Research 40 (3): 214–218. Bibcode:2006SoSyR..40..214L. doi:10.1134/S0038094606030051. 
  4. ^ PDS lightcurve data Archived 17 tháng 1 2010 at WebCite
  5. ^ Hilton, J. (17 tháng 9 năm 2001). “When Did the Asteroids Become Minor Planets?”. U.S. Naval Observatory. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2007. 
  6. ^ Sonntag, A. (1852). “Elemente und Ephemeride der Psyche”. Astronomische Nachrichten 34 (20): 283. Bibcode:1852AN.....34..283.. doi:10.1002/asna.18520342010. ‘(in a footnote) Herr Professor de Gasparis schreibt mir, in Bezug auf den von ihm März 17 entdeckten neuen Planeten: "J'ai proposé, avec l'approbation de Mr. Hind, le nom de Psyché pour la nouvelle planète, ayant pour symbole une aile de papillon surmontée d'une étoile."’ 
  7. ^ S.J. Ostro (1985). “Radar observations of asteroids and comets”. Astronomical Society of the Pacific, Publications 97: 877. Bibcode:1985PASP...97..877O. doi:10.1086/131619. 
  8. ^ C. Magri et al. (1999). “Mainbelt Asteroids: Results of Arecibo and Goldstone Radar Observations of 37 Objects during 1980–1995”. Icarus 140 (2): 379. Bibcode:1999Icar..140..379M. doi:10.1006/icar.1999.6130. 
  9. ^ E. Merényi et al. (1997). “Prediction of Water in Asteroids from Spectral Data Shortward of 3 µm”. Icarus 129 (2): 421. Bibcode:1997Icar..129..421M. doi:10.1006/icar.1997.5796. 
  10. ^ P.S. Hardersen, M.J. Gaffey, and P.A. Abell (2005). “Near-IR spectral evidence for the presence of iron-poor orthopyroxenes on the surfaces of six M-type asteroids”. Icarus 175 (1): 141. Bibcode:2005Icar..175..141H. doi:10.1016/j.icarus.2004.10.017. 
  11. ^ D.R. Davis, P. Farinella, & M. Francesco (1999). “The Missing Psyche Family: Collisionally Eroded or Never Formed?”. Icarus 137 (1): 140. Bibcode:1999Icar..137..140D. doi:10.1006/icar.1998.6037. 
  12. ^ “Occultation of TYC 5783-01228-1 by (16) Psyche 2004 May 16”. Royal Astronomical Society of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2008. 
  13. ^ M. Kaasalainen et al. (2002). “Models of Twenty Asteroids from Photometric Data”. Icarus 159 (2): 369. Bibcode:2002Icar..159..369K. doi:10.1006/icar.2002.6907. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2006. 
  14. ^ a ă Wall, Mike (15 tháng 1 năm 2014). “Strange Metal Asteroid Targeted in Far-Out NASA Mission Concept”. Space.com. TechMedia Network. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  15. ^ “MESSENGER Science Team”. Johns Hopkins University Applied Physics Laboratory. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.