2K11 Krug

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
2K11 Krug
tên ký hiệu NATO: SA-4 "Ganef"
Sa-4.jpg
2K11 TEL
Loại hệ thống SAM cơ động
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1964 đến nay
Quốc gia sử dụng Xem bên dưới
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Lyulev Novator
Năm thiết kế 1957
Nhà sản xuất MZiK
Các biến thể Krug, Krug-A, Krug-M, Krug-M1, Krug-M2, Krug-M3
Thông số kỹ chiến thuật (2K11 Krug[1])
Khối lượng 28.200 kg
Chiều dài 7.5 m (9.46 m với đạn tên lửa)
Chiều rộng 3.2 m
Chiều cao 4.472 m (với đạn tên lửa)
Kíp chiến đấu 3 to 5

Bọc giáp 15 mm
Động cơ V-59 V-12 nhiên liệu diesel làm mát bằng nước
520 hp
Công suất/trọng lượng 17.33 hp/t
Khoảng sáng gầm 0.44 m
Sức chứa nhiên liệu 850 lít
Tầm hoạt động 780 km
Tốc độ 35 km/h

2K11 Krug (tiếng Nga: 2К11 «Круг»; tiếng Anh: circle) là một hệ thống tên lửa đất đối không (SAM) tầm xa và trần bắn trung và cao của Liên Xô (cũ) và Nga. "2K11" là tên định danh GRAU, tên ký hiệu NATOSA-4 Ganef. Hệ thống này được thiết kế bởi NPO Novator và chế tạo tại Nhà máy chế tạo máy Kalinin.

Phát triển và trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phòng không Krug ZRK-SD (2K11) được phát triển vào năm 1957 tại phòng thiết kế Lyulev OKB. Hệ thống này xuất hiện lần đầu tiên tại cuộc duyệt binh tại Moskva vào tháng 5-1964. Hệ thống này được triển khai rộng khắp vào năm 1967 và đến năm 1969 thì hoạt động đầy đủ. Hệ thống này được sử dụng trong Lục quân Nga như một hệ thống SAM tầm ngắn.

Phiên bản đầu của Krug trang bị vào năm 1965. Phiên bản tác chiến hoàn chỉnh đầu tiên là Krug-A trang bị năm 1967, phiên bản cải tiến Krug-M năm 1971 và Krug-M1 năm 1974, các phiên bản sau được phát triển nhằm khắc phục các vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt động.[1] Một phiên bản là bia bay có tên gọi 9M316M Virazh đã được phát triển từ các tên lửa Krug đã cũ, loại bia bay này được chào hàng xuất khẩu năm 1994.[2][3]

2K11 được quân đội Xô viết sử dụng một thời gian ngắn trong chiến tranh ở Afghnistan giai đoạn 1979-1980, nhưng sau đó đã rút về sau vài tháng hoạt động.[4] Năm 1997, có các báo cáo rằng[2] năm 1993 và 1996, khoảng 27 bệ phóng Krug và 349 tên lửa đã được bán cho Armenia. Ba Lan đã thử nghiệm 4 tên lửa vào tháng 9-2006 nhằm tiêu diệt các mục tiêu là P-15 Termit (SS-N-2 'Styx')

Đài radar P-40 "Long Track".

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Xe chở[sửa | sửa mã nguồn]

Xe chở tên lửa TEL (transporter erector launcher - xe mang ống phóng) là xe bánh xích (hoán cải AT-T) dựa trên khung gầm GM-123 và mang hai đạn tên lửa trên hai bệ phóng có thể quay 360 độ và góc ngẩng là 70 độ. Hai phiên bản chính của tên lửa được trang bị là 9M8M1 (2K11M "Krug-M") và 9M8M2 (2K11M2/3 "Krug-M1"), cả hai đều được Bộ quốc phòng Mỹ gọi với tên SA-4B. 9M8M (SA-4A) nguyên bản được trang bị năm 1965 và tiếp theo là 9M8M1 (2K11A "Krug-A") nâng cấp năm 1967 trước 9M8M1 năm 1971 và 9M8M2 năm 1973. 9M8M2 thật ra có trần bắn tối đa thấp và tầm bắn ngắn, nhưng bù lại là hiệu suất tiêu diệt các mục tiêu bay thấp cao. Mỗi khẩu đội tên lửa thường gồm 2 tên lửa 9M8M1 và 4 tên lửa 9M8M2 cũng như các đài radar:

  • P-40 "Long Track" dải sóng E, đây là radar cảnh báo sớm (cũng được sử dụng trong hệ thống SA-6SA-8, tầm 175 km/108 dặm)
  • "Pat Hand" dải sóng H, đây là radar dẫn hướng và điều khiển bắn (tầm 128 km/80 dặm)
  • "Thin Skin" dải sóng E, đây là radar đo cao (cũng được sử dụng trong hệ thống SA-6SA-8, tầm 240 km/148 dặm)

Cả hai đài radar "Long Track""Pat Hand" được đặt trên xe AT-A hoán đổi, tương tự như xe phóng 9M8. Đài radar "Thin Skin" được đặt trên xe tải. Các khẩu đội cũng có các xe tải Ural mang các tên lửa dự trữ để nạp cho xe phóng.

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

9M8
Loại Tên lửa đất đối không
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử chế tạo
Các biến thể 3M8 (sau là 9M8) Krug, 9M8M Krug-M, 9M8M1 Krug-M1, 9M8M2 Krug-M2, 9M8M3 Krug-M3.
Thông số kỹ chiến thuật (9M331[1])
Khối lượng 2.453 kg
Chiều dài 8.784 m
Đường kính 86 cm

Đầu nổ Frag-HE
Trọng lượng đầu nổ 150 kg
Cơ cấu nổ ngòi nổ cận đích và chạm

Động cơ động cơ phản lực chạy dầu
Tầm hoạt động 55 kilômét (34 mi)
Độ cao bay 24.500 mét (80.400 ft)
Động cơ phụ 4 động cơ phản lực đẩy phụ nhiên liệu lỏng
Tốc độ 1100 m/s
Hệ thống điều khiển điều khiển vô tuyến, radar bán tự động

Các tên lửa được phóng với sự trợ giúp của 4 động cơ phản lực phụ dùng nhiên liệu rắn gắn ngoài. Khi 4 động cơ phụ đốt hết nhiên liệu, tên lửa kích hoạt động cơ chính, đây là động cơ phản lực thẳng dòng nhiên liệu lỏng. Tên lửa đạt đến tốc độ Mach 4 và có tầm bắn hiệu quả 50–55 km (31-34 dặm) phụ thuộc vào từng phiên bản. Nó mang đầu đạn nặng 135 kg (300 lb). Độ cao tên lửa có thể đạt được từ 100 mét đến 27 km (330-88.500 feet). Tên lửa 3M8 được thiết kế và chế tạo tại NPO Novator.

Tên lửa được điều khiển qua vô tuyến với pha cuối là dùng radar bán chủ động (SARH). Hệ thống bám mục tiêu quang học cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn điều khiển ban đầu trong môi trường bị chế áp điện tử mạnh.

Cấu trúc của hệ thống tên lửa Krug[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xe phóng tự hành 2P24
  • Đài điều khiển tên lửa 1S32
  • Đài phát hiện mục tiêu 1S12
  • Xe nạp đạn 2T6

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia trước kia[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Hungary có một trung đoàn. Ngừng hoạt động vào giữa thập niên 1990.
  •  Nga - 500 (Ngừng hoạt động vào năm 2007)

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e “Almaz/Antei Concern of Air Defence - 2K11 Krug (SA-4 'Ganef') medium to high-altitude surface-to-air missile system”. Jane's Information Group. 2 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008. 
  2. ^ a ă “Krug (SA-4 'Ganef')”. Jane's Information Group. 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008. 
  3. ^ Boris Dukhov, Anatoly Shiroky, Building combat skills, Military Parade
  4. ^ Urban, Mark. War in Afghanistan, 43, 66.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]