2K12 Kub

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
2K12 Kub
tên ký hiệu NATO: Gainful
Sa6 1.jpg
xe đặc chủng 2P25 với đạn tên lửa
Loại Tổ hợp phòng không chiến thuật cơ động
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1970 đến nay
Quốc gia sử dụng Xem bên dưới
Sử dụng trong Chiến tranh Yom Kippur, Nội chiến Chad, Chiến tranh Vùng Vịnh, Chiến tranh Nam Tư
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế NIIP/Vympel
MMZ (Khung gầm GM)
Năm thiết kế 1959
Nhà sản xuất Nhà máy cơ khí Ulyanovsk (SURNs)
ZiK (TEL)
Giai đoạn sản xuất 1968–1985
Các biến thể 2K12 Kub, 2K12E Kvadrat (phiên bản xuất khẩu), 2K12M3, 2K12M4
Thông số kỹ chiến thuật (2K12 Kub)

Vũ khí chính 3 đạn tên lửa điều khiển 9M336 (hoặc các biến thể khác)

2K12 "Kub" (tiếng Nga: 2К12 "Куб"; tiếng Anh: cube) là hệ thống tên lửa đất đối không cơ động của Liên Xô. Hệ thống phòng không này có tầm bắn thấp và trung bình, được thiết kế nhằm bảo vệ các lực lượng mặt đất và các mục tiêu quan trọng. 2К12 là tên định danh GRAU của hệ thống này. Tên ký hiệu NATO đối với hệ thống này là "Gainful" và tên định danh của Bộ Quốc phòng MỹSA-6.

Mỗi khẩu đội 2K12 gồm một số xe đặc chủng, một xe mang radar 1S91 25 kW băng G/H công suất 25 kW (xe SURN, tên định danh NATO là "Straight Flush") có tầm hoạt động 75 km/47 dặm, trang bị một máy hỏi sóng liên tục, ngoài ra còn một hệ thống ngắm quang học. Khẩu đội tên lửa thường gồm 4 xe mang giá phóng (TEL), mỗi xe trang bị 3 đạn tên lửa và 4 xe tải mỗi xe mang 3 đạn tên lửa bổ sung và một cần cẩu. TEL dựa trên khung gầm của GM-578, trong khi xe radar 1S91 dựa trên khung gầm xe GM-568, tất cả được phát triển và chế tạo bởi MMZ.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

2K12 "Kub" được bắt đầu phát triển sau ngày 18 tháng 7 năm 1958, theo yêu cầu của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô[1]. Hệ thống được yêu cầu có thể tiêu diệt các mục tiêu trên không bay với vận tốc 420–600 m/s ở độ cao từ 100 m đến 7 km với tầm bắn có thể đạt tới 20 km, xác suất trung mục tiêu với quả đạn duy nhất đạt ít nhất là 0,7[1].

Việc thết kế hệ thống này là trách nhiệm của Viện nghiên cứu khoa học về thiết kế công cụ Tikhomirov (NIIP). Ngoài NIIP còn có vài phóng thiết kế khác tham gia vào việc chế tạo hệ thống tên lửa Kub, bao gồm MMZ (hiện nay là công ty cổ phần Metrowagonmash) thiết kế và sản xuất khung gầm của các hệ thống tự hành. Rất nhiều các phòng thiết kế sau này đã tiếp tục hợp tác với NIIP để phát triển hậu duệ của 2K12 "Kub", đó là 9K37 "Buk"

Hệ thống Kub đã bắn hạ mục tiêu trên không đầu tiên vào ngày 18 tháng 2 năm 1963 trong cuộc nghiệm thu nhà nước tại trường bắn thử nghiệm pháo binh Donguz (tiếng Nga: Донгуз). Mục tiêu là một máy bay ném bom Ilyushin Il-28.

Hệ thống bắt đầu được thử nghiệm kéo dài từ năm 1959 đến 1966, sau khi vượt qua những khó khăn kỹ thuật về sản xuất, hệ thống 2K12 "Kub" đã được chấp nhận trang bị vào ngày 23 tháng 1 năm 1967 và được trang bị cho các đơn vị trong cùng năm 1967[1]. Đôi khi người ta cho rằng hệ thống phòng không hải quân M-11 Shtorm (SA-N-3) là một phiên bản của 3M9, nhưng điều này không phải trong trường hợp này, M-11 Shtorm là một hệ thống riêng biệt và điều khác thường đối với hệ thống tên lửa đất đối không của Nga là M-11 Shtorm không có biến thế trang bị cho các đơn vị lục quân.

2K12 "Kub" được đề nghị hiện đại hóa vào năm 1967 với mục tiêu cải thiện các đặc tính chiến đấu (tầm bắn xa hơn, cải thiện khả năng ECCM, thời gian triển khai hoạt động). Một biến thể hiện đại hóa trải qua các cuộc thử nghiệm cấp nhà nước vào năm 1972 và được chấp nhân vào năm 1973 với tên định danh "Kub-M1"[1]. Hệ thống trải qua một đợt hiện đại hóa nữa từ năm 1974 đến 1976, các đặc tính chiến đấu chung của hệ thống cũ đã được cải tiến trong biến thể "Kub-M3", Kub-M3 đã vượt qua các cuộc thử nghiệm và được trang bị vào năm 1976[1].

 
 
 
 
 
 
Kub
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Kub-M1
 
Kub-M
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Kub-M3
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Kub-M4
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Buk
 
 
 
 
 
 

Sự phát triển chính cuối cùng của hệ thống tên lửa Kub đã đạt được trong quá trình phát triển người kế nhiệm của nó, đó là hệ thống 9K37 "Buk" vào năm 1974. Dù Buk là hệ thống kế thừa của Kub, người ta quyết định cả hai hệ thống có thể chia sẻ một số khả năng tương kết, kết quả của quyết định này là hệ thống "Kub-M4"[1]. Kub-M4 sử dụng các thành phần của Kub-M3, có thể nhận thông tin điều khiển hỏa lực tiêu diệt mục tiêu từ xe mang radar và ống phóng 9А310 (TELAR) của hệ thống 9K37 Buk. Khả năng tương tác với nhau là một lợi thế trong việc tăng số lượng các kệnh điều khiển hỏa lực và các đạn tên lửa sẵn sàng chiến đấu cho mỗi hệ thống cũng như đưa vào hoạt động nhanh hơn đối với các thành phần của hệ thống Buk. Kub-M4 được trang bị năm 1978 sau khi hoàn thành các cuộc nghiệm thu cấp nhà nước[1].

Một số sự giải thích phát triển ban đầu của hệ thống tên lửa Buk cho rằng hệ thống này sử dụng rất nhiều thành phần của hệ thống Kub bao gồm cả đạn tên lửa 3M9.[2]

Có rất nhiều kết hoạch để tích hợp một tên lửa dẫn đường bằng radar chủ động vào hệ thống Kub. Ví dụ, Ba Lan phát triển dự án trang bị cho Kub tên lửa Sparrow và được giới thiệu tại triển lãm quốc phòng MSPO 2008 ở Kielce.[3][4] Vympel cũng có kế hoạch sử dụng tên lửa không đối không RVV-AE để hiện đại hóa hệ thống SAM Kvadrat.[5]

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Xe mang radar của hệ thống Kub

Hệ thống 2K12 có chung rất nhiều thành phần hợp thành với hệ thống 2K11 Krug (SA-4). Chúng được thiết kế để bổ sung cho nhau; 2K11 có hiệu quả tiêu diệt các mục tiêu bay cao và tầm bắn xa, trong khi 2K12 tiêu diệt các mục tiêu bay thấp và trung bình và có tầm bắn trung bình.

Hệ thống có thể phát hiện và bắt đầu theo dõi mục tiêu nhờ sử dụng đài radar 1S91 (NATO: "Straight Flush") có tầm hoạt động 75 km (47 dặm) và bắt đầu chiếu mục tiêu và điều khiển tên lửa ở tầm 28 km (17 dặm). Khả năng phân biệt địch ta cũng được trang bị cho radar này. Đài radar này có thể điều khiển một hoặc hai tên lửa bay đến một mục tiêu cùng lúc. Tên lửa vào pha đầu được điều khiner bằng lệnh và pha cuối bằng radar bán chủ chủ động (SARH), việc chiếu mục tiêu nhờ vào đài radar "Straight Flush". Đầu đạn được kích nổ bằng ngòi nổ chạm hoặc ngòi nổ cận đích. Ở các kiểu mới nhất, xe mang đài radar còn được trang bị một hệ thống bám mục tiêu quang học cho phép bắt bám mục tiêu không cần sử dụng radar (do phải tránh phát xạ tín hiệu tần số vô tuyến hoặc do nhiễu mạnh) trong các trường hợp này độ cao hiệu quả bị giới hạn xuống còn 14 km/46000 ft. Tốc độ mục tiêu tối đa trong khoảng Mach 2 cho đối đầu trực diện và Mach 1 đối với bám đuôi mục tiêu. Tốc độ cực đại của tên lửa là khoảng Mach 2.8.

Trái ngược với tên lửa Patriot hiện đại hoặc ngay cả những hệ thống đơn giản như Hawk của quân đội Mỹ, hầu hết các hệ thống Kub được lắp đặt trên các xe tự hành bánh xích, thay vì kéo hoặc gắn trên xe tải, và xe mang ống phóng hoặc xe điều khiển có thể được triển khai chiến đấu chỉ trong 15 phút sau khi thay đổi địa điểm.

9M336 (còn gọi là 3M9)
Soviet made Iraqi SA-6b Gainful.JPEG
Loại Tên lửa đất đối không
Nguồn gốc  Soviet Union
Lược sử chế tạo
Các biến thể 3M9, 3M9M1, 3M9M3, 3M9M4
Thông số kỹ chiến thuật (3M9)
Khối lượng 599 kg
Chiều dài 5800 mm
Đường kính 335 mm

Đầu nổ Frag-HE
Trọng lượng đầu nổ 59 kg
Cơ cấu nổ ngòi nổ chạm và cận đích ximity

Sải cánh 1.245 m
Động cơ động cơ phản lực chính và động cơ đẩy phụ
Tầm hoạt động 24 km (15 mi)
Độ cao bay 12.000 m (39.000 ft)
Tốc độ Mach 2.8
Hệ thống điều khiển radar bán chủ động
Cơ cấu phóng xe đặc chủng 2P25

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa có tầm bắn hiệu quả trong khoảng 3 đến 24 km (2–15 dặm) và độ cao hiệu quả là 50–12000 m (164–39.370 ft). Trọng lượng tên lửa là 599 kg (1321 lb) và đầu đạn nặng 56 kg (123 lb). Vận tốc lớn nhất mà tên lửa đạt được xấp xỉ Mach 2.8. Tên lửa có hai động cơ, một động cơ đẩy phụ và một động cơ chính.

Năm 1977 một phiên bản mới là 3M9M1 (tên định danh của Mỹ là: SA-6B) đã được chế tạo, với ba tên lửa được gắn lên một khung gầm khác (giống như 9K37 "Buk", sự thay thế hiệu quả cho 2K12) với một radar điều khiển tên lửa "Fire Dome" đi cùng.

Một nâng cấp khác được thực hiện để thay thế tên lửa 2K12 bằng loại tên lửa 2K12E và hệ thống này được gọi là Kvadrat ("Квадрат", nghĩa là hình vuông). Tên gọi này xuất phát từ mô hình bố trí phổ biến nhất của các xe quân sự của tổ hợp 2K12, khi radar 1S91 được đặt ở trung tâm và 4 xe Tel 2P25 đặt ở đỉnh của một hình vuông xung quanh radar.

IVC 3M20M3 Peniye
Loại hệ thống giả mục tiêu huấn luyện cho các đơn vị tên lửa phòng không
Nguồn gốc  Soviet Union/ Russia
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 600 kg
Chiều dài 5841 mm

Đầu nổ Không

Sải cánh 932 mm
Động cơ integral rocket motor/ramjet booster and sustainer motor
Tầm hoạt động 24 km (15 mi)
Độ cao bay 500 m(1.600 ft) – 6.000 m (20.000 ft)
Tốc độ 200–600 m/s
Hệ thống điều khiển radar bán chủ động
Cơ cấu phóng xe đặc chủng 2P25

Các loại radar bổ sung[sửa | sửa mã nguồn]

2K12 có thể được sử dụng ở mức trung đoàn, nếu sử dụng như vậy nó cần kết hợp với một số các hệ thống radar khác để mở rộng phạm vi tìm kiếm ở tầm xa và độ cao thấp, ngoài radar 1S91 "Straight Flush" đã có sẵn. Các hệ thống bổ sung bao gồm:

  • P-12 "Spoon Rest", đài radar cảnh báo sớm dải sóng VHF (cũng dùng cho hệ thống SA-2), tầm hoạt động 200 kilômét (120 mi).
  • P-40 "Long Track", đài radar cảnh báo sớm băng E (cũng dùng cho hệ thống SA-4SA-8, tầm hoạt động 370 kilômét (230 mi).
  • P-15 "Flat Face A", đài radar cảnh báo sớm dải sóng UHF (cũng dùng cho hệ thống SA-3, tầm hoạt động 150 kilômét (93 mi).
  • "Thin Skin" hay "Side Net", đài radar đo cao băng E (cũng dùng cho hệ thống SA-2, SA-4SA-5, tầm hoạt động 240 km/148 dặm)
  • "Score Board" radar phân biệt địch ta

Các đài radar "Spoon Rest""Thin Skin" được đặt trên xe tải, đài radar "Long Track" đặt trên xe bánh xích (AT-T hoán đổi) và đài radar "Flat Face" đặt trên xe van.

Nếu không có xe radar cơ động P-40 "Long Track", 2K12 không thể theo dõi máy bay trên độ cao lớn.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Radar 1S91.

Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Yom Kippur[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ hợp 2K12 đã gây bất ngờ cho Israel trong Chiến tranh Yom Kippur năm 1973. 2K12 đã được sử dụng để bảo vệ không phận chiến trường. Tổ hợp này có sức cơ động lớn đã gây thiệt hại lớn đối với loại máy bay A-4 Skyhawk bay chậm và thậm chí cả F-4 Phantom, tạo thành một chiếc ô bảo vệ cho cứ điểm. Thiết bị cảnh báo radar (RWR) trên máy bay của Israel đã không báo động cho phi công khi máy bay bị radar bắt bám. Một khi RWR được lập trình lại và thay đổi chiến thuật, 2K12 không còn là mối đe dọa nghiêm trọng cho Israel nữa. Các phi công gọi 2K12 là "Three Fingers of Death" (Ba ngón tay của thần chết).

Tổ hợp 2K12 có hiệu suất chiến đấu cao đối với các mục tiêu bay thấp, và tên lửa có đầu dò bán chủ động nên có tỉ lệ tiêu diệt mục tiêu cao hơn so với các tổ hợp SA-2 và SA-3. Số lượng máy bay bắn rơi trong chiến tranh hiện vẫn đang còn là tranh cãi, khoảng 40 chiếc đã bị SAM bắn hạ và 2K12 / SA-6 đã chứng tỏ là tổ hợp phòng không hiệu quả nhất trong 3 loại tên lửa phòng không.[6]

Chiến tranh Liban 1982[sửa | sửa mã nguồn]

Xe đặc chủng mang tên lửa của tổ hợp SA-6 gần đường nối Beirut-Damascus, đầu năm 1982.

Syria cũng đã triển khai nó trong xung đột ở Liban vào giữa năm 1982 chống lại Không quân Israel, nhưng Israel đã triển khai Chiến dịch Mole Cricket 19 nhằm chế áp các hệ thống SAM tại Thung lũng Beqaa, vài hệ thống SA-6 cùng với SA-2 và SA-3 đã bị tiêu diệt trong một ngày của chiến dịch này.

SA-6 cũng tỏ ra là một mối đe dọa cho Mỹ và không quân Pháp hỗ trợ cho lực lượng gìn giữ hòa bình 1982-1983[7].

Libya[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống SA-6 đã được triển khai bởi Libya trong tranh chấp biên giới với Chab và chung minh là một mối đe dọa cho máy bay Pháp, tuy nhiên vào ngày 7 tháng 1 năm 1987, Pháp đã thành công khi phá hủy đài radar của SA-6 tại vùng Faya Largeau bằng máy bay SEPECAT Jaguar trang bị tên lửa chống radar Martel.

Vào tháng 3, những chiến binh nổi loạn người Chad đã chiếm giữ căn cứ không quân Ouadi Doum và bắt giữ được một số lượng các trang thiết bị vũ khí hạng nặng sử dụng để phòng không cho căn cứ. Hầu hết các thiết bị này đã được chuyển đến Pháp và Mỹ, nhưng một số hệ thống SA-6 vẫn ở lại Chad.

Với thảm họa này, sự chiếm đóng của Libya ở phía bắc Chad - và việc sát nhập dải đất Aouzou - chấm dứt vào ngày 30 tháng 3, cũng là lúc các căn cứ ở Faya Largeau và Aouzou bị bỏ rơi. LARAF hiện nay đã có một nhiệm vụ hoàn toàn khác: những chiếc Tu-22B đã tấn công các căn cứ bị bỏ rơi và phá hủy nhiều trang thiết bị bị bỏ lại càng nhiều càng tốt. Cuộc tấn công đầu tiên như vậy diễn ra vào tháng 4, và chúng tiếp tục đến tận 8 tháng 8 năm 1987, khi 2 chiếc Tu-22B đã cố gắng tấn công Aouzou, nhưng đã bị phục kích bởi một khẩu đội SA-6 bị bắt giữa bởi Quân đội Chad, và một chiếc máy bay ném bom đã bị bắn hạ.[8]

Iraq[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc F-16 của USAF (số đuôi 87-228) đã bị bắn hạ vào ngày 19 tháng 1 năm 1991 bởi một tên lửa SA-6. Đây là chiếc máy bay thứ 10 mất trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc. Phi công là đại úy Harry 'Mike' Roberts, đã nhảy dù an toàn nhưng bị bắn làm tù binh. Máy bay đang thực hiện phi vụ tấn công tòa nhà sở chỉ huy phòng không ở Baghdad. Nó đã bay 4 phi vụ chiến đấu trước khi bị bắn hạ.[9]. 2 ngày trước đó, một chiếc B-52G đã bị hư hại bởi một tên lửa SAM có thể là bởi SA-6 hoặc SA-3.

Trong mọi trường hợp, các mối đe dọa từ SA-6 đã được kiểm soát bởi các thiết bị tác chiến điện tử của Quân đồng minh, nhưng các hệ thống tên lửa SA-2 và SA-3 cũ hơn đã bắn hạ một số máy bay của quân đồng minh.

Bosnia[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng quân đội Republika Srpska đã sử dụng các hệ thống SA-6 nâng cấp để bắn hạ thành công chiếc F-16 của Scott O'Grady vào năm 1995[10][11] và ít nhất một chiếc MiG-21, 2 đến 3 chiếc An-2 của Không quân Croatia sử dụng để ném bom ban đêm với loại bom 100 kg[12].

Một chiếc Mi-17 đã bị bắn hạ bởi Kub vào ngày 28 tháng 5, giết chết bộ trưởng Irfan Ljubijankić của Bosnia, một vài chính trị gia và tổ lái trực thăng người Ukraina.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

3M9 TEL sơn ngụy trang.

Các quốc gia không còn sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]


Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]