AC/DC

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AC/DC
Rock band in performance on a well-lit but hazy stage. At the back is a guitarist; there are two more guitarists, a vocalist off to one side, and a drummer in the rear.
AC/DC, từ trái sang phải: Brian Johnson, Malcolm Young, Phil Rudd, Angus Young, Cliff Williams, biểu diễn tại Tacoma, Washington, 31 tháng 8, 2009.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Sydney, Australia
Thể loại Hard rock
Heavy metal
Blues rock
Rock and roll
Năm 1973 (1973)–nay
Hãng đĩa Albert, EMI, Columbia, Epic, Atlantic, Atco, Elektra, East West
Hợp tác Geordie, The Easybeats, Fraternity, The Valentines, Rhino Bucket
Thành viên hiện tại
Angus Young
Malcolm Young
Cliff Williams
Brian Johnson
Phil Rudd
Thành viên cũ
Bon Scott
Dave Evans
Mark Evans
Simon Wright
Chris Slade

AC/DC là một band nhạc rock Australia, được thành lập năm 1973 bởi 2 anh em nhà Young, Malcolm YoungAngus Young. AC/DC thường được coi là một band nhạc hard rock và là band nhạc tiên phong của dòng nhạc heavy metal[1][2] (nhưng theo chính AC/DC thì nhạc của họ chỉ đơn giản là "rock 'n' roll"[3]). Cho đến nay AC/DC là một trong những band nhạc thành công nhất và có doanh thu bán album cao nhất mọi thời đại.

Nét chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ba anh em Malcolm, Angus, và George Young sinh ra tại Glasgow, Scotland, chuyển tới Sydney cùng gia đình năm 1963. George là người đầu tiên theo học guitar. Anh trở thành thành viên của band nhạc the Easybeats, một trong những band nhạc thành công nhất nước Úc những năm 1960( năm 1966, họ trở thành band nhạc rock đầu tiên ở Úc có hit nổi tiếng thế giới với ca khúc "Friday on My Mind").[4] Malcolm tiếp bước George chơi cho 1 band nhạc ở Newcastle, New South Wales, có tên The Velvet Underground (không phải ban nhạc The Velvet UndergroundNew York)[5].

Tháng 11 năm 1973, Malcolm và Angus Young thành lập AC/DC sau khi ban nhạc The Velvet Underground của Malcolm tan rã, họ tuyển mộ tay bass Larry Van Kriedt, giọng ca chính Dave Evans, và tay trống Colin Burgess(thành viên cũ của Masters Apprentices).[6]. Cái tên AC/DC được lấy ý tưởng sau khí chị gái của họ, Margaret Young thấy chữ viết tắt AC/DC trên một chiếc máy hút bụi trong nhà. AC/DC là viết tắt của "alternating current/direct current" (dòng điện xoay chiều/dòng điện một chiều). Những năm sau đó AC/DC cho ra 2 album đầu tay là High VoltageT.N.T. trong năm 1975 tại Úc với người sản xuất chính là George Young. Album High Voltage sau đó được phát hành lại tại Anh năm 1976.

AC/DC đã trải qua một số thay đổi nhân sự trước khi cho ra album đầu tiên như tay trống mới Phil Rudd, tay bass mới Mark Evans, rồi Dave Evans bị thay thế bởi Bon Scott (ca sĩ chính cũ của The Spektors). Sau đó nhân sự của band không thay đổi cho tới khi tay bass Mark Evans được thay thế bởi Cliff Williams năm 1977 trong album Powerage. Trong khi đang chuẩn bị thu âm album mới (album Back in Black sau đó) thì giọng ca chính Bon Scott đã qua đời vào ngày 19 tháng 2 năm 1980 sau một đêm uống quá nhiều rượu mạnh tại một câu lạc bộ ở London. Trong 1 khoảng thời gian ngắn sau đó band nhạc có ý định giải tán nhưng cha mẹ của Scott đã thuyết phục họ đi tìm 1 giọng ca mới và tiếp tục sự nghiệp. Và thành viên cũ của band nhạc Geordie, ca sĩ Brian Johnson đã được chọn thay thế Scott. Cuối năm đó, band nhạc giới thiệu album bán chạy nhất trong sự nghiệp của họ và đứng thứ 2 trong danh sách album bán chạy nhất thế giới, Back in Black.

Album tiếp theo, For Those About to Rock We Salute You, là album đầu tiên của nhóm chiếm được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của Mỹ. Các album tiếp sau đều lọt vào các vị trí cao trong bảng xếp hạng Anh và Mỹ như Flick of the Switch (1983), Fly on the Wall (1985) và Blow Up Your Video (1988). Sau album Flick of the Switch năm 1983, tay trống Phil Rudd rời band và được thay thế bởi Simon Wright (Simon Wright sau này chuyển sang chơi cho ban nhạc Dio vào năm 1990). Phil Rudd sau đó trở lại chơi vào năm 1994(thay thế cho Chris Slade, người đã thay thế Simon Wright chơi từ năm 1990 tới 1994) và tham gia vào album Ballbreaker. Từ sau đó tới nay nhân sự của band không có gì thay đổi. Album Stiff Upper Lip được phát hành năm 2000 và nhận được nhiều phản hồi từ giới phê bình. Và album mới nhất của band, Black Ice, được phát hành ngày 20 tháng 10 năm 2008, là album làm nên lich sử khi chiếm vị trí số 1 trên các bảng xếp hạng album tại 29 nước trên thế giới.[7][8]. Tháng 9 năm 2014, do vấn đề về sức khỏe Malcolm đã chính thức rời band nhạc và album tiếp theo Rock Or Bust là album đầu tiên của band nhạc mà không có sự tham gia của Malcolm. Band nhạc cũng công bố tour lưu diễn kỷ niệm 40 năm thành lập với 1 thành viên mới là Steve Young, cháu của Angus va Malcolm.[9]

Tính tới năm 2010, AC/DC đã bán được hơn 200 triệu album trên toàn thế giới,[10] trong đó có 71 triệu album bán được ở Mỹ.[11]. Album Back in Black bán được 49 triệu album trên toàn thế giới, trở thành album bán chạy thứ 2 trong lịch sử sau album Thriller của vua nhạc pop Michael Jackson.[12][13] Back in Black cũng là album bán chạy thứ 5 tại Mỹ album với 22 triệu bản.[14] AC/DC được xếp thứ tư trong bảng xếp hạng 100 nghệ sĩ Hard Rock vĩ đại nhất của VH1[15][16] và được xếp thứ 7 trong bảng xếp hạng các band nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại của MTV.[17] Năm 2004, AC/DC được Rolling Stone xếp hạng số 71 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.[18]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Angus Young – lead guitar (1973–present)
  • Steve Young – rhythm guitar, backing vocals (2014–present)
  • Cliff Williams – bass, backing vocals (1977–present)
  • Brian Johnson – lead vocals (1980–present)
  • Phil Rudd – drums (1975–1983, 1994–present)

Thành viên cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách album[sửa | sửa mã nguồn]

Album Phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên BXH Chứng nhận
AUS
[19]
AUT
[20]
CAN
[21]
FRA
[22]
GER
[23]
NOR
[24]
NZ
[25]
SWE
[26]
SWI
[27]
UK
[28]
US
[29]
1975 High Voltage (Australia) 7
T.N.T. (Australia)
  • Phát Hành: tháng 12, 1975
  • hãng: Albert Productions
1 35
1976 High Voltage (International) 7 146
Dirty Deeds Done Dirt Cheap (Australia)
  • Phát Hành: 20 tháng 9, 1976
  • Hãng: Albert Productions
4
Dirty Deeds Done Dirt Cheap (International)
  • Phát Hành: 17 tháng 12, 1976
  • Hãng: Atlantic Records
15 20 50 3
1977 Let There Be Rock (Australia)
  • Phát Hành: 21 tháng 3 1977
  • Hãng: Albert Productions
19
Let There Be Rock (International)
  • Phát Hành: 23 tháng 6, 1977
  • Hãng: Atlantic Records
9 42 29 17 154
1978 Powerage
  • Phát hành: 25 tháng 5, 1978
  • Hãng: Atlantic Records
22 10 19 26 133
1979 Highway to Hell
  • Phát Hành: 27 tháng 7, 1979
  • Hãng: Atlantic Records
13 38 40 2 37 46 24 57 8 17
1980 Back in Black
  • Phát Hành: 25 tháng 7, 1980
  • Hãng: Atlantic Records
1 6 1 1 42 8 24 12 36 1 4
1981 For Those About to Rock
  • Phát Hành: 23 tháng 11, 1981
  • Hãng: Atlantic Records
3 7 4 1 6 6 9 3 1
1983 Flick of the Switch
  • Phát Hành: 15 tháng 8, 1983
  • Hãng: Atlantic Records
3 9 12 5 4 8 8 28 4 15
1985 Fly on the Wall
  • Phát Hành: 28 tháng 6, 1985
  • Hãng: Atlantic Records
4 24 30 19 17 22 10 19 7 32
1988 Blow Up Your Video 2 15 14 21 3 3 4 4 2 12
1990 The Razors Edge
  • Phát Hành: 24 tháng 9, 1990
  • Hãng: Atlantic Records
3 11 1 5 55 2 2 5 2 4 2
1995 Ballbreaker 1 2 4 2 4 4 2 1 1 6 4
2000 Stiff Upper Lip 3 1 7 2 1 6 12 1 2 12 7
2008 Black Ice 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • US: 2× Platinum[30]
  • CAN: 5× Platinum[32]
  • UK: Platinum[31]
  • AUS: 5× Platinum[37]
  • GER: 5× Platinum[33]
  • FIN: 2× Platinum[34]
2014 Rock Or Bust
  • Phát hành: 28 tháng 11 2014
  • Hãng: Albert / Columbia
"—" không được thống kê.

Album hát live[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên BXH Chứng nhận
AUS AUT CAN FRA GER NOR NZ SWE SWI UK US US CAN UK] AUS
1978 If You Want Blood You've Got It
  • Released: 13 tháng 10, 1978
  • Hãng: Atlantic Records
37 10 13 113 Platinum Gold
1992 Live 1 21 21 1 15 10 3 25 10 5 15 3× Platinum Platinum Gold 3× Platinum[37]
Live: 2 CD Collector's Edition
  • Released: 27 tháng 10, 1992
  • Hãng: Atco Records
44 7 7 5 9 5 34 2× Platinum
1997 Live from the Atlantic Studios
Let There Be Rock: The Movie
  • Released: 14 tháng 11, 1997
  • Hãng: East West Records
"—" không được thống kê.

Album nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên BXH Chứng nhận
AUS
[19]
AUT
[20]
CAN
[21]
FRA
[22]
GER
[23]
NOR
[24]
NZ
[25]
SWE
[26]
SWI
[27]
UK
[28]
US
[29]
1986 Who Made Who
  • Phát hành: 24 tháng 5, 1986
  • Hãng: Atlantic Records
4 28 12 30 24 21 21 11 33
  • US: 5× Platinum[30]
2010 Iron Man 2
  • Phát hành: 19 tháng 4, 2010
  • Hãng: Columbia Records
1 1 1 4
"—" không được thống kê.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dale Hoiberg biên tập (24 tháng 9 năm 2007). “AC/DC”. Encyclopædia Britannica Ultimate Reference Suite (ấn bản 2008). ISBN 1-59339-292-3. 
  2. ^ Dale Hoiberg biên tập (24 tháng 9 năm 2007). “heavy metal”. Encyclopædia Britannica Ultimate Reference Suite (ấn bản 2008). ISBN 1-59339-292-3. 
  3. ^ Engleheart, Murray (18 tháng 11 năm 1997). AC/DC — Bonfire. 
  4. ^ Baker, Glenn A. “History of Albert Music”. Albert Music. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  5. ^ Walker, Clinton (2001). Highway to Hell: The Life and Times of AC/DC Legend Bon Scott. tr. 128–133. ISBN 1-891241-13-3. 
  6. ^ “Rock Snaps”. Australian Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ “AC/DC's 'Black Ice' Debuts at #1 in 29 Countries”. Blabbermouth.net (Roadrunner Records). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  8. ^ “AC/DC Completes Recording New Album”. Blabbermouth.net. 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008. 
  9. ^ “AC/AC to release new album Rock Or Bust”. 
  10. ^ Howard Stern Show, 2008, Brian Johnson and Angus Young interview, XM/Sirius Satelite Radio.
  11. ^ “Top Selling Artists”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  12. ^ Levine, Robert (12 tháng 10 năm 2008). “Ageless and Defiant, AC/DC Stays on Top Without Going Digital”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  13. ^ “AC/DC, fuoco alle polveri: <<Lasciate che ci sia il rock!>>”. Gazzetta di Parma. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2009. 
  14. ^ “Top 100 Albums”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  15. ^ “100 Greatest artists of hard rock”. VH1. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  16. ^ Rock On The Net: VH1: 100 Greatest Hard Rock Artists: 1–50.
  17. ^ “The Greatest Metal Bands of All Time”. MTV. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008. 
  18. ^ “The Greatest Artists of All Time: 72) AC/DC”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010. 
  19. ^ a ă “AC/DC discography”. Rockdetector. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2008. 
  20. ^ a ă “AC/DC discography”. Austrian charts (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  21. ^ a ă “AC/DC discography”. Canadian album charts. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008. 
  22. ^ a ă “Note: You must select AC/DC”. Infodisc.fr. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  23. ^ a ă “AC/DC discography”. German charts (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  24. ^ a ă “AC/DC discography”. Norwegian charts. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  25. ^ a ă “AC/DC discography”. New Zealand charts. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  26. ^ a ă “AC/DC discography”. Swedish charts. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  27. ^ a ă “AC/DC discography”. Diw Offizielle Schweizer Hitparade und Music Community (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  28. ^ a ă “UK Albums chart”. EveryHit.com. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  29. ^ a ă “AC/DC Artist Chart History - Albums”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2008. 
  30. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o RIAA Gold and Platinum Search for albums by AC/DC, 24 May 2008
  31. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Certified Awards”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2008. 
  32. ^ a ă â b c “CRIA Database”. Cria.ca. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  33. ^ a ă “Gold/Platin–Datenbank” [Vàng/Bạch kim–Dữ liệu chứng nhận] (bằng Tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010. 
  34. ^ a ă â b c “Musiikkituottajat - Tilastot - Kulta- ja platinalevyt > AC/DC”. Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2011. 
  35. ^ a ă “ARIA album accreditations for Stiff Upper Lip”. Aria.com.au. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  36. ^ “ARIA album accreditations for Black Ice”. Aria.com.au. 31 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 
  37. ^ a ă “http://www.aria.com.au/pages/ARIACharts-Accreditations-2009Albums.htm”. Aria.com.au. 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2010. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bunton, Richard (1983). AC/DC: Hell Ain't No Bad Place to Be. Omnibus Books. ISBN 0-7119-0082-5. 
  • Dome, Malcolm (1982). AC/DC. Proteus Books. ISBN 0-86276-011-9. 
  • Engleheart, Murray (2006). AC/DC: Maximum Rock & Roll. Harper Collins. ISBN 978-0-7322-8964-5. 
  • Holmes, Tim (1986). AC/DC (Monsters of Metal). Ballantine. ISBN 0-345-33239-3. 
  • Huxley, Martin (1996). AC/DC: The World's Heaviest Rock. Lightning Source Inc. ISBN 0-312-30220-7. 
  • Stenning, Paul (2005). AC/DC: Two Sides to Every Glory. Chrome Dreams. ISBN 1-84240-308-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:AC/DC Bản mẫu:AC/DC singles Bản mẫu:Normdaten