ALGOL

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ALGOL
Mô hình lập trình Thủ tục, Mệnh lệnh, Cấu trúc
Xuất hiện vào 1958
Thiết kế bởi Bauer, Bottenbruch, Rutishauser, Samelson, Backus, Katz, Perlis, Wegstein, Naur, Vauquois, van Wijngaarden, Woodger, Green, McCarthy
Ảnh hưởng tới Hầu hết các ngôn ngữ mệnh lệnh (còn gọi là các ngôn ngữ "tương tự ALGOL")
Thí dụ: Simula, C, CPL, Pascal, Ada

ALGOL (viết tắt từ ALGOrithmic Language)[1] là một họ ngôn ngữ lập trình mệnh lệnh được thiết kế vào giữa thập kỷ 1950 và có ảnh hưởng sâu sắc tới các ngôn ngữ lập trình khác. Nó đã từng là ngôn ngữ chuẩn để mô tả giải thuật của ACM trong sách giáo khoa và các tài liệu học thuật trong hơn ba mươi năm.[2] Trong một chừng mực nào đó, đa số các ngôn ngữ hiện đại là "tương tự ALGOL",[3] cho nên có nhiều tranh luận về việc coi nó là ngôn ngữ thành công nhất trong bốn ngôn ngữ cấp cao cùng thời với nó: Fortran, LispCOBOL. Nó được thiết kế để tránh những lỗi đã biết của Fortran và cuối cùng là sự khởi đầu cho nhiều ngôn ngữ khác, chẳng hạn BCPL, B, Pascal, PL/I, SimulaC. ALGOL mở đầu cho việc dùng khối mã và cặp từ khóa beginend để ngăn cách các khối, và nó cũng là ngôn ngữ đầu tiên hiện thực hàm lồng nhau với tầm vực tĩnh. Hơn nữa, nó là ngôn ngữ lập trình đầu tiên chú trọng tới định nghĩa ngôn ngữ hình thức, và trong Báo cáo Algol 60 đã giới thiệu dạng chuẩn Backus–Naur, ý tưởng chính để thiết kế ngôn ngữ.


Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Thí dụ và các giới hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên của ngôn ngữ đôi khi được viết cả chữ hoa lẫn chữ thường (Algol 60), và đôi khi chỉ toàn chữ hoa (ALGOL 68). Để đơn giản, bài viết này sẽ viết ALGOL.
  2. ^ Collected Algorithms of the ACM Compressed archives of the algorithms. ACM.
  3. ^ P. W. O'Hearn; R. D. Tennent (tháng 9 năm 1996). “Algol-like languages,Introduction”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012.