ATR 72

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ATR 72
Aer Arann ATR-72 EI-REE Bristol.jpg
Kiểu Máy bay chở khách cấp vùng
Hãng sản xuất ATR
Tình trạng Đang hoạt động
Được phát triển từ ATR 42

ATR 72 là một máy bay chở khách sử dụng hai động cơ tuốc bin cánh quạt hoạt động trên những tuyến đường ngắn, được sản xuất tại Pháp bởi ATR. Nó có thể chở 72 hành khách đồng hạng và do hai phi công điều khiển. Đây là loại máy bay cấp vùng chủ yếu của American Eagle Airlines, và hãng này cũng sở hữu số lượng ART 72 lớn nhất, những chiếc ATR 72 của hãng được gọi là Super ATR.

Mục lục

Lịch sử [sửa]

Một chiếc ATR 72-500 của Vietnam Airlines tại Sân bay Đồng Hới, Đồng Hới, Quảng Bình.

ATR 72 (Avion de Transport Régional) được phát triển từ ATR 42. ATR đã kéo dài thân thêm 4,5 m (14 ft 9 in), mở rộng sải cánh, lắp động cơ mạnh hơn và tăng dung tích bình chứa nhiên liệu thêm xấp xỉ 10%. Chiếc ATR 72 được thông báo năm 1986[1] và thực hiện chuyến bay đầu tiên ngày 27 tháng 10 năm 1988. Chính xác một năm sau đó, ngày 27 tháng 10 năm 1989, Finnair trở thành công ty đầu tiên đưa loại máy bay này vào phục vụ.[2]

Tới tháng 12 năm 2007, tổng cộng 361 chiếc ATR 72 đã được chuyển giao trên toàn thế giới, với 177 chiếc khác đang được đặt hàng.[3]

Biến thể [sửa]

Có ba biển thế chính của ATR 72 đã được chế tạo.

ATR 72-200 [sửa]

ATR 72-200 là phiên bản sản xuất đầu tiên, sử dụng động cơ Pratt & Whitney Canada PW124B với sức mạnh 2400 shp.[4]

ATR 72-210 (212) [sửa]

ATR 72-210, được American Eagle gọi là ATR 72-212 là chiếc ATR 72-200 với động cơ PW127 sức mạnh 2750 shp mỗi chiếc để tăng cường khả năng hoạt động trong điều kiện thời tiết nóng và độ cao lớn.

ATR 72-500 (210A/212A) [sửa]

Tên ban đầu là ATR 72-210A và được American Eagle gọi là ATR 72-212A, loại ATR 72-500 là phiên bản cải tiến của ATR 72-210 sử dụng cánh quạt sáu cánh trên các động cơ PW127F. Các cải tiến khác gồm trọng lượng tối đa cao hơn và tính năng bay tốt hơn, cũng như tăng khả năng hoạt động tự động giúp giảm số lượng công việc của phi công.

Biến thể khác [sửa]

ATR đã giới thiệu một phiên bản có cửa chở hàng cho ATR 72 tại Farnborough 2002, cùng với một phiên bản dành riêng cho chở hàng. FedEx, DHL, và UPS đều có sử dụng phiên bản này.[5]

Một phiên bản ATR 72-500 chở VIP với nội thất xa xỉ cũng có mặt trên thị trường.[6]

Một biến thể chống tàu ngầm (ASW) của ATR 72-500 (chính nó là một phiên bản của biến thể tuần tra biển của ATR 42-500) cũng đang được chế tạo[7] và đã được Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ lựa chọn làm cho nhiệm vụ ASW và chống tàu ngầm (ASuW). Tổng cộng 10 chiếc sẽ được chuyển giao cho Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ tới năm 2010. Chiếc máy bay sẽ được trang bị các tên lửa không đối đất và thủy lôi cho các nhiệm vụ SuW và ASW. Chúng cũng được trang bị các hệ thống chiến tranh điện tửtrinh sát và cũng sẽ được dùng cho nhiệm vụ tìm kiếm và cứu hộ trên biển.[cần dẫn nguồn]

Hãng điều hành chính [sửa]

Khoảng 47 hãng hàng không khác cũng đang sử dụng ở số lượng nhỏ hơn.

Các công ty đặt hàng chính gồm:

Tai nạn và sự cố [sửa]

Đặc điểm kỹ thuật [sửa]

  • Đội bay: 2 (captain + first officer)
  • Số chỗ: 64-74
  • Tốc độ tối đa: 275 knots (509 km/h)
  • Tầm hoạt động: 910 dặm (1.685 km)
  • Sải cánh: 27,1 m (88 ft 9 in)
  • Chiều dài: 27,2 m (89 ft 2 in)
  • Chiều cao: 7,7 m (25 ft 2 in)
  • Hàng/hành lý: 10,6 m³ (375 ft³)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 22.500 kg
  • Động cơ:
    • ATR 72-210: Pratt & Whitney Canada PW127 (1.850 kW) × 2
Kích thước ATR 42 ATR 72
Số chỗ 44-50 64-74
Tầm hoạt động khi chất tải tối đa 640 nm (ATR 42-300)
870 hải lý (ATR 42-500)
930 hải lý (ATR 72-200)
820 hải lý (ATR 72-210)
830 hải lý (ATR 72-500)
Sải cánh 24,57 m 27,1 m
Chiều dài 22,67 m 27,2 m
Chiều cao 7,59 m 7,7 m
Trọng lượng cất cánh tối đa 16.700 kg (ATR 42-300/320)
17.900 kg (ATR 42-400)
18.600 kg (ATR 42-500)
21.500 kg (ATR 72-2XX)
22.500 kg (ATR 72-500)
Động cơ Pratt & Whitney Canada
2 x PW120 @ 1800 SHP (ATR 42-300)
2 x PW121 @ 1900 SHP (ATR 42-320)
2 x PW121A @ 2000 SHP (ATR 42-400)
2 x PW127E @ 2160 SHP (ATR 42-500)
Pratt & Whitney Canada
2 x PW124 @ 2160 SHP (ATR 72-200)
2 x PW127 @ 2475 SHP (ATR 72-210)
2 x PW127F @ 2475 SHP (ATR 72-500)

Linh tinh [sửa]

  • Hành khách lên cửa sau (điều hiếm thấy với máy bay chở khách) vì cửa trước để chất hàng.Cửa hành khách và cửa buồng hàng trước thường nằm bên trái. Cửa buồng hàng sau nằm bên phải
  • Một thanh chống đuôi (tail strut)phải được sử dụng khi máy bay đậu trên mặt đất đề phòng trường hợp máy bay bị chổng mũi lên (dù rất hiếm). Chống đuôi chỉ được rút khi khách đã lên máy bay hết và được giữ trên máy bay trong suốt chuyến bay
  • Máy bay ATR không có Động cơ phụ (APU), nhưng có một phanh cánh quạt thường được gắn ở động cơ bên phải. Phanh này được dùng trong một chế độ nổ máy gọi là "Hotel Mode". Ở chế độ Hotel mode, động cơ bên phải (động cơ số 2) hoạt động nhưng phanh, không cho cánh quạt quay. Mục đích chế độ này là để cấp điện cho máy bay khí điều hòa cho hành khách và tổ lái khi mà hệ thống điện và khí lạnh mặt đất đã được cắt. Thông thường khi khách đã lên gần hết thì cắt khí mặt đất và máy bay nổ Hotel mode. Lưu ý, ở chế độ này, động cơ hầu như không tạo lực đẩy vì cánh quạt không hoạt động.

Điều này giúp giảm nhẹ trọng lượng và chi phi cho một APU. Động cơ được khởi động định kỳ khi bảo dưỡng nhằm đảo bảo hao mòn đồng đều.

Tham khảo [sửa]

  1. ^ Detailed Milestones
  2. ^ ATR Profile
  3. ^ Worldwide presence
  4. ^ ATR 72-200
  5. ^ ATR Cargo Solutions
  6. ^ ATR VIP
  7. ^ ASW variant
  8. ^ [1] AirNZ
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên FI

Liên kết ngoài [sửa]

Chủ đề liên quan [sửa]

  • Dãy
  • Danh sách
  • Xem thêm