Adityawarman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Adityawarman (cũng Adityavarman), một nhà quý tộc sinh ra ở phía đông Java, từ thơ Pararaton[1] mẹ là Dara Jingga, công chúa Dharmasraya, cha là Adwayawarman từ ghi chép Kuburajo[2] xung quanh Limo Kaum ở Tây Sumatra. Ông có thể đã đi Trung Quốc trên một chuyến ngoại giao trong năm 1325 nếu như một số nhà sử học tin rằng, ông là phái viên mà một nguồn Trung Quốc gọi là Sengk'ia-lie-yu-lan[3].

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Adityawarman sinh ra vào khoảng năm 1294-1310 tại Trowulan, thủ đô của vương quốc Majapahit. Ông là em họ của Jayanegara, vua của Majapahit năm 1309-1328, và cháu trai của Tribhuwanaraja, vua của Vương quốc Melayu[4].

Tên của ông xuất hiện tại Java từ năm 1343 trên một hình ảnh của Bồ Tát Văn Thù đã được ban đầu trong Candi Jago, thánh địa được xây dựng bởi Kertanegara cho cha của mìnhVisnuvardhana.[5].

Adityawarman được cho là người đã thành lập vương quốc và chủ trì các khu vực trung tâm Sumatra giữa 1347 và 1375, nhiều khả năng để kiểm soát việc buôn bán vàng địa phương. Các hiện vật được thu hồi từ triều đại Adityawarman bao gồm một số lượng đá có chứa chữ viết, và các bức tượng. Một số các mặt hàng này đã được tìm thấy tại Bukit Gombak, một ngọn đồi gần Pagarruyung hiện đại, và nó là một cung điện hoàng gia được đặt ở đây.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Brandes, J.L.A., (1897), Pararaton (Ken Arok) of het boek der Koningen van Tumapěl en van Majapahit, Uitgegeven en toegelicht, Batavia: Albrecht; 's Hage: Nijhoff, VBG 49.1.
  2. ^ Kern, J.H.C., (1913), Grafsteenopschrift van Koeboer Radja, Bijdragen tot de Taal-, Land- en Volkenkunde van Nederlands-Indië, p. 401–404.
  3. ^ Slamet Muljana, (2005), Runtuhnya Kerajaan Hindu-Jawa dan Timbulnya Negara-negara Islam di Nusantara, Yogyakarta: LKiS, ISBN 978-979-8451-16-4.
  4. ^ Hardjowardojo, R.P., (1966), Adityawarman, Sebuah Studi tentang Tokoh Nasional dari Abad XIV, Djakarta: Bhratara.
  5. ^ Bosch, F.D.K., (1921), De inscriptie op het Mansjuri-beeld van 1265 Caka, Bijdragen tot de Taal-, Land en Volkenkunde. 77: 194-201.