Adriano Leite Ribeiro
| Adriano | ||
| Thông tin cá nhân | ||
|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Adriano Leite Ribeiro | |
| Ngày sinh | 17 tháng 2, 1982 | |
| Nơi sinh | Rio de Janeiro, Brasil | |
| Chiều cao | 1,89 m (6 ft 2 1⁄2 in) | |
| Vị trí | Tiền đạo | |
| Thông tin về CLB | ||
| CLB hiện nay | Roma | |
| Số áo | 8 | |
| CLB trẻ | ||
| 1997–1999 | Flamengo | |
| CLB chuyên nghiệp1 | ||
| Năm | CLB | Số trận (bàn thắng)* |
| 2000–2001 2001– 2002 2002–2004 2008 2009–2010 2010– |
Flamengo Internazionale → Fiorentina (cho mượn) → Parma (đồng sở hữu) → São Paulo (cho mượn) Flamengo Roma |
19 (7) 123 (48) 15 (6) 37 (23) 0 (0) 31 (19) 3 (0) |
| Đội tuyển quốc gia2 | ||
| 2000– | Brasil | 48 (27) |
|
1 Chỉ tính số trận và số bàn thắng |
||
Adriano Leite Ribeiro (sinh ngày 17 tháng 2, 1982 tại Rio de Janeiro), được biết đến nhiều nhất với tên Adriano, là một cầu thủ bóng đá người Brasil, hiện đang chơi cho đội A.S. Roma của Ý ở vị trí tiền đạo.
Mục lục |
[sửa] Sự nghiệp cấp câu lạc bộ
[sửa] Thuở đầu
Adriano bắt đầu sự nghiệp bóng đá vào năm 1999 tại đội tuyển trẻ của Flamengo, anh mau chóng được đưa vào đội hình chính thức vào một năm sau đó. Sau hai năm chơi bóng cho Flamengo, anh chuyển sang Inter Milan, và ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho Inter trong trận giao hữu gặp Real Madrid.[2]
[sửa] Parma
Mùa bóng 2001-2002, Adriano được Inter cho Fiorentina mượn, [3] trước khi cùng đồng đội Matteo Ferrari chuyển sang chơi cho Parma với một hợp đồng cho mượn khác.[4] Tại đây, anh nhanh chóng trở thành một trong những chân sút nguy hiểm của Serie A với 22 bàn thắng sau 36 lần ra sân.
[sửa] Trở về Inter
Adriano trở lại San Siro vào năm 2004 với một hợp đồng 4 năm[5] và ghi liền 15 bàn thắng sau 16 lần ra mắt tại mùa bóng '04-05. Từ 11 tháng 6 năm 2004 tới 25 tháng 7 năm 2005, anh ghi tất cả 40 bàn thắng trên 2 mặt trận cấp câu lạc bộ và cấp quốc gia. Vào tháng 12 năm 2005, Inter đã thành công trong việc gia hạn hợp đồng với anh đến năm 2010.[6]
Sau khi ký kết hợp đồng mới, sự nghiệp của Adriano tại Inter đã trở nên ảm đạm trong suốt 3 mùa bóng. Anh thường có những thể hiện kém thuyết phục, ngoài ra lại thường lao vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng bên ngoài sân cỏ. Anh bị Dunga, huấn luyện viên trưởng đội Brasil loại ra khỏi danh sách thi đấu trong trận giao hữu với Ecuador vào ngày 10 tháng 10 năm 2006. Dunga khuyên anh "nên thay đổi thái độ" và "cần chú trọng vào bóng đá". Vào ngày 18 tháng 2 năm 2007, vì mải mê với tiệc sinh nhật kéo dài của mình, anh vắng mặt trong một buổi tập quan trọng của đội, khiến cho huấn luyện viên của Inter Roberto Mancini quyết định phạt anh ngồi ngoài sân trong trận đấu với Valencia tại Champions League, và trận đấu với Catania tại giải nội địa.
[sửa] Mùa bóng 2008-09
Ngày 14 tháng 12 năm 2008, Adriano được ra sân trong đội hình chính thức trong trận gặp Panathinaikos, và anh đã ghi một bàn thắng đẹp từ tình huống đối diện với thủ môn Mario Calinovic. Anh tiếp tục thể hiện phong độ tốt trong trận tiếp theo gặp Torino, khi cùng 2 cầu thủ Brasil khác là Maicon và Mancini giúp Inter giành chiến thắng 3-1. Sau trận đấu, anh được Sky Sports bầu làm "cầu thủ của trận". Ở một vòng đấu khác tại Serie A, anh đã có bàn thắng thứ 100 của mình, tính riêng trong các giải vô địch quốc gia Brasil và Italia: bàn thắng từ một tình huống đá phạt đền do đồng đội Zlatan Ibrahimovic mang lại. Ngày 22 tháng 10 năm 2008, Adriano ghi bàn giúp đội đánh bại Anorthoris 1-0. Với bàn thắng này, anh đã nâng số lần lập công của mình tại Champions League lên con số 18.[7]
[sửa] Sự nghiệp quốc tế
Adriano, với 27 bàn sau 41 trận đấu cho tuyển quốc gia, đã từng được hy vọng sẽ là người kế thừa của Ronaldo tại đội Brasil. Cho tới kỳ 2005 FIFA Confederations Cup, Adriano được trao danh hiệu "Cầu thủ của giải đấu" và Chiếc giày vàng với 5 bàn thắng. Trong trận chung kết, anh góp phần giúp Brasil đánh bại Argentina 4-1 chiến thắng khi ghi 2 bàn thắng.[8]
Anh được gọi vào đội hình tham dự World Cup 2006, và ghi bàn thắng đầu tiên tại giải này vào ngày 18 tháng 7 năm 2006, trong trận gặp đội Úc. Bàn thắng thứ 2 trong trận gặp Ghana tại vòng 1/16. Với 2 bàn thắng và 5 cú sút trong suốt giải đấu, anh bị đánh giá là có sự thể hiện kém thuyết phục.[9]
Hai năm sau khi Dunga về làm huấn luyện viên trưởng tuyển Brasil, Adriana chỉ được ra sân một trận. Đó là trận giao hữu mà Brasil đã để thua Bồ Đào Nha hai bàn không gỡ vào ngày 6 tháng 2 năm 2007. Đến ngày 15 tháng 5 năm 2008, anh mới được gọi lại đội tuyển trong các trận giao hữu với Canada và Venezuela. [10]
[sửa] Danh hiệu
- Câu lạc bộ
- Rio State Championship: 2000, 2001
- Brazilian Champions' Cup: 2001
- Serie A: 2006, 2007, 2008
- Coppa Italia: 2005, 2006
- Italian Super Cup: 2005, 2006
- Quốc tế
- Copa América: 2004
- Confederations Cup: 2005
- FIFA U-17 World Cup: 1999
- South American Youth Championship: 2001
- Cá nhân
- Copa América: 2004 - Golden Ball for The Best Player of the Tournament and The Golden Shoe For Top Scorer
- Confederations Cup: 2005 - Golden Ball for The Best Player of the Tournament and The Golden Shoe For Top Scorer
[sửa] Thống kê sự nghiệp
| Thành tích cấp CLB | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp châu lục | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mùa giải | CLB | Giải vô địch | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng |
| Brazil | Giải vô địch | Copa do Brasil | Nam Mỹ | Tổng cộng | ||||||
| 2000 | Flamengo | Série A | 19 | 7 | - | 8 | 1 | 321 | 101 | |
| 2001 | - | 4 | 1 | 2 | 0 | 142 | 22 | |||
| Ý | Giải vô địch | Coppa Italia | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2001-02 | Internazionale | Serie A | 8 | 1 | 1 | 0 | 5 | 0 | 14 | 1 |
| 2001-02 | Fiorentina | Serie A | 15 | 6 | - | - | 15 | 6 | ||
| 2002-03 | Parma | Serie A | 28 | 15 | 1 | 0 | 2 | 2 | 31 | 17 |
| 2003-04 | 9 | 8 | 2 | 0 | 2 | 1 | 13 | 9 | ||
| 2003-04 | Internazionale | Serie A | 16 | 9 | 2 | 3 | - | 18 | 12 | |
| 2004-05 | 30 | 16 | 3 | 2 | 9 | 10 | 42 | 28 | ||
| 2005-06 | 30 | 13 | 6 | 0 | 11 | 6 | 47 | 19 | ||
| 2006-07 | 23 | 5 | 4 | 1 | 3 | 0 | 30 | 6 | ||
| 2007-08 | 4 | 1 | - | - | 4 | 1 | ||||
| Brazil | Giải vô địch | Copa do Brasil | Nam Mỹ | Tổng cộng | ||||||
| 2008 | São Paulo | Série A | - | - | 10 | 6 | 283 | 173 | ||
| Ý | Giải vô địch | Coppa Italia | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2008-09 | Internazionale | Serie A | 10 | 3 | 2 | 2 | 4 | 2 | 13 | 5 |
| Tổng cộng | Brazil | 19 | 7 | 4 | 1 | 20 | 7 | 744 | 294 | |
| Ý | 174 | 75 | 20 | 6 | 38 | 19 | 231 | 100 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 238 | 100 | 20 | 6 | 37 | 9 | 295 | 125 | ||
[sửa] Chú thích
- ^ F.C. Internazionale Milano
- ^ “Adriano - AS roma and Brazil”, footballdatabase.com. Truy cập 23 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Adriano and Robbiati have been transferred to Fiorentina”, inter.it, 11 tháng 1 năm 2002. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Transfer market, Inter and Parma have reached an agreement”, inter.it, 23 tháng 5 năm 2002. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Adriano returns to Inter”, inter.it, 21 tháng 1 năm 2004. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Inter, Adriano together until 2010”, inter.it, 26 tháng 9 năm 2005. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Adriano goal statistics”, inter.it, 17 tháng 11 năm 2007. Truy cập 17 tháng 11 năm 2008.
- ^ “Germany 2005: Wonderful tournament whets appetite for the main event”, FIFA. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Adriano - His World Cup”, Golaccio.com. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007.
- ^ “Adriano joins Brazil for friendlies”, FIFA.com. Truy cập 24 tháng 5 năm 2008.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Adriano Leite Ribeiro. |
- adrianoleiteribeiro.com (tiếng Ý)
- adriano-online.com
- inter.it (tiếng Ý)
- CBF (tiếng Bồ Đào Nha)
- footballdatabase.com
- sambafoot