Aegirin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Aegirin

tinh thể aegirin
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật silicat, pyroxen
Công thức hóa học Na Fe3+[ Si2O6]
Tính đối xứng tinh thể 2/m
Phân tử gam 231,00
Màu lục sẫm, đen lục
Dạng thường tinh thể tinh thể lăng trụ tập hợp hình kim, sợi và tỏa tia
Hệ tinh thể lăng trụ đơn tà
Song tinh song tinh đơn giảm và dạng tấm phổ biến theo mặt {100}
Cát khai tốt theo {110}, (110) ^ (110) ≈87°; một phần theo {100}
Vết vỡ không rõ
Độ bền giòn
Độ cứng Mohs 6
Ánh thủy tinh đến nhựa
Màu vết vạch xám vàng
Tính trong mờ trong mờ đến đục
Tỷ trọng riêng 3,50 - 3,60
Thuộc tính quang hai trục (-)
Chiết suất nα = 1,720 - 1,778 nβ = 1,740 - 1,819 nγ = 1,757 - 1,839
Khúc xạ kép δ = 0,037 - 0,061
Đa sắc X = lục emerald, lục đậm; Y = lá mạ, lục đậm, vàng; Z = lục nâu, lục, nâu vàng, vàng
Góc 2V giá trị đo: 60° đến 90°, giá trị tính: 68° đến 84°
Tán sắc trung bình đến mạnh r > v
Tham chiếu [1][2][3][4]

Aegirin là một khoáng vật khoáng vật silicat mạch là một thuộc nhóm pyroxen đơn tà. Aegirin là khoáng vật nền natri trong dãi aegirin-augit. Aegirin có công thức hóa học là NaFeSi2O6, trong đó sắt ở dạng Fe3+. Trong dãi aegirin-augit, natri dần dần được thay thế bởi canxi, và sắt (II) với magie t hay thế sắt (III) để cân bằng điện tích. Nhôm cũng thay thế vào trị trí của sắt (III). Nó còn được gọi là acmit, là một biến thể dạng sơi, màu lục.

Aegirine

Aegirin thường có mặt trong các đá mácma kiềm, nephelin syenit, carbonatitpegmatit. Ngoài ra, nó còn có mặt trong các đá schist, gneiss bị biến chất khu vực và trong các thành hệ sắt; trong các đá tướng phiến lam, và từ quá trình biến chất trao đổi biến đổi natri trong granulit. Nó có thể có mặt ở dạng khoáng vật tại chỗ (tại sinh) trong đá phiến sétmarl. Nó đi cùng với fenspat kali, nephelin, riebeckit, arfvedsonit, aenigmatit, astrophyllit, catapleiit, eudialyt, seranditapophyllit.[1]

Các địa phương tìm thấy khoáng vật này như Mont Saint-Hilaire, Quebec, Canada; Kongsberg, Na Uy; Narsarssuk, Greenland; bán đảo Kola, Nga; Magnet Cove, Arkansas, Hoa Kỳ; Kenya; ScotlandNigeria.

Khoáng vật này được miêu tả đầu tiên vào năm 1835 khi nó được phát hiện ở Rundemyr, Øvre Eiker, Buskerud, Na Uy. Aegirin được đặt theo tên Ægir, vị thần biển Teutonic.[2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă http://rruff.geo.arizona.edu/doclib/hom/aegirine.pdf Handbook of Mineralogy
  2. ^ a ă http://www.mindat.org/min-31.html Mindat
  3. ^ http://webmineral.com/data/Aegirine.shtml Webmineral
  4. ^ Hurlbut, Cornelius S.; Klein, Cornelis, 1985, Manual of Mineralogy, 20th ed., ISBN 0-471-80580-7