Ahmose I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ahmose I
Còn gọi là Amosis, theo Manetho[1], và Amasis[2]
Tiên vương:
Kamose
Khamudi
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 18
Kế vị:
Amenhotep I
Một phần tượng của Ahmose I, tại Metropolitan Museum of Art
Niên đại 1550 TCN - 1525 TCN (đang bàn cãi)
25 năm theo Manetho
Tên ngai
M23 L2
<
ra
nb
F9
t t
>

Nebpehtire[3]
The Lord of Strength is Re
Tên riêng
G39 N5
<
iaH ms s
>

Ahmose[4]
The Moon is Born
Tên
thần Horus
G5
O29 L1 G43
Srxtail2.GIF
Aakheperu[5]
Great of Developments[6]
Tên Nebty
(hai quý bà)
G16
t
t
A53 F31 t G43
Tutmesut[5]
Perfect of Birth[6]
Horus Vàng
G8
G5
S24
O34
N17
N17
Tjestawy[5]
He who Knots Together the Two Lands[6]
Hôn phối Ahmose-Nefertari
God's Wife of Amun
Con cái Meritamen, Sitamun, Siamun,
Ahmose-ankh, Amenhotep I,
Ramose A, có thể Mutnofret
Cha Tao II Seqenenre
Mẹ Ahhotep I
Mất 1525 TCN
Chôn cất Xác ướp tìm thấy tại Deir el-Bahri,
nhưng rất có thể đã chôn tại Abydos
Công trình lớn Cung điện tại Avaris,
Đền Amun tại Karnak,
Đền Montu tại Armant


Ahmose I, hay Ahmosis I hoặc Amasis I, là một pharaoh của Ai Cập cổ đại và là người sáng lập ra Vương triều thứ 18. Ông là thành viên của hoàng gia Thebes, con trai của pharaoh Tao II Seqenenre và em trai của vị vua cuối cùng của triều đại thứ mười bảy, vua Kamose. Trong suốt triều đại của cha hoặc ông nội ông, Thebes đã khởi nghĩa chống lại người Hyksos, những người cai trị của Hạ Ai Cập. Khi ông lên bảy cha của ông tử trận[7] và ông đã được khoảng mười tuổi khi anh trai của ông qua đời không rõ nguyên nhân, sau khi trị vì chỉ có ba năm. Ahmose I được cho rằng ngôi sau cái chết của anh trai.[8]

Trong triều đại của mình, Ahmose I đã đánh thắng những người Hyksos và đuổi họ ra khỏi Ai Cập. Ông đã mở mang bờ cõi đế quốc của ông tới tận Nubia ở phía Nam và Canaan (Israel) ở phía Đông. Ông cũng cho xây dựng nhiều đền thờ các vị thần Ai Cập ở thành Thebes và nhiều nơi khác, và còn cho xây một kim tự thápAbydos, được biết như kim tự tháp cuối cùng của người Ai Cập. Ahmose I đã được kế nhiệm bởi một loạt những Pharaoh vĩ đại.[9]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ahmose có nguồn gốc từ triều đại thứ mười bảy Thebes. Ông nội và bà nội của ông, Tao và Tetisheri, đã có ít nhất mười hai người con, bao gồm cả Tao IIAhhotep. Con cái của họ là Kamose, Ahmose I và nhiều người con gái[10] Ahmose I tiếp theo truyền thống của cha mình, kết hôn với một số chị em của mình, phong cho Ahmose Nefertari làm người vợ cả[11]. Họ đã có nhiều người con bao gồm các con gái Meritamun B, Sitamun A và các con trai Siamun A, Ahmose-ankh,[12]Amenhotep IRamose A [13] ("A" và "B" chỉ định sau tên là một quy ước được sử dụng bởi các nhà Ai Cập học để phân biệt giữa những người con hoàng gia và những người vợ mà nếu có cùng tên). Họ cũng có thể là cha mẹ của Mutnofret, người sẽ trở thành vợ của người kế vị sau này là Thutmose I. Ahmose-ankh là người hoàng thái tử của Ahmose, nhưng ông ta đã qua đời trước cha mình giữa năm năm cai trị thứ 17 và 22 của Ahmose [14] Ahmose được kế vị bởi người con trai lớn tuổi nhất còn sống, Amenhotep I, người mà ông có thể đã chia sẻ một giai đoạn đồng nhiếp chính ngắn.

Không có đột phá khác biệt trong dòng dõi của gia đình hoàng gia giữa các triều đại 17 và 18.Nhà sử học Manetho, sau này trong triều đại Ptolemaios, xem xét việc đánh đuổi hoàn toàn người Hyksos sau gần một thế kỷ và phục hồi sự cai trị của người Ai Cập bản xứ trên cả nước là một sự kiện đáng kể, đủ để đảm bảo sự bắt đầu của một triều đại mới.[15]

Niên đại và thời gian trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại của Ahmose có thể được xác định tương đối chính xác ngày bằng loại lịch quan sát thời điểm gần mặt trời của chùm sao Thiên Lang trong triều đại của người kế vị ông, nhưng do tranh chấp về từ nơi tiến hành quan sát, triều đại của ông đã được cho là từ năm 1570-1546, 1560-1537 và 1551-1527 khác nhau do nguồn.[16][17] Manetho cho rằng Ahmose trị vì 25 năm và 4 tháng.[18] con số này được hỗ trợ bởi một dòng chữ "năm 22 'từ triều đại của ông tại các mỏ đá ở Tura[18] Một cuộc kiểm tra y tế xác ướp của ông chỉ ra rằng ông qua đời khi ông khoảng 35 tuổi, hỗ trợ cho một triều đại 25 năm nếu ông lên ngôi hoàng đế ở tuổi 10 [16] Đo carbon phóng xạ cho thấy phạm vi ngày bắt đầu triều đại của ông là vào năm 1570-1544TCN, điểm trung bình trong số đó là năm 1557 trước Công nguyên.[19]

Các cuộc chinh phạt[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến giữa các vị vua Thebes và vua Hyksos Apepi Awoserre đã bắt đầu trong triều đại của Tao II Seqenenre và sẽ kết thúc, sau gần 30 năm xung đột và chiến tranh liên tục, dưới triều đại của Ahmose I. Tao II có thể đã tử trận trong một cuộc chiến chống lại người Hyksos, do xác ướp của ông có những vết thương nghiêm trọng, và vua Kamose kế vị ông(có thể là anh trai của Ahmose) được biết là đã tấn công và đột kích các vùng đất xung quanh thủ đô của người Hyksos, Avaris (hiện nay là Tell el-Dab'a)[7]. Kamose rõ ràng đã có một triều đại ngắn, vì chứng thực lâu nhất về triều đại của ông là năm thứ 3, và đã được kế vị bởi Ahmose I. Apepi có thể đã qua đời gần cùng khoảng thời gian đó. Có bất đồng vì có hai cái tên Apepi được tìm thấy trong các ghi chép lịch sử có triều đại khác nhau hoặc nhiều tên cho cùng một vị vua. Thực sự, nếu họ là các vị vua khác nhau, Apepi Awoserre được cho là đã qua đời vào khoảng thời gian tương tự như Kamose và đã được kế vị bởi Apepi II Aqenienre.[8]

Ahmose lên ngôi khi ông vẫn còn là một đứa trẻ, vì vậy mẹ của ông, Ahhotep, trị vì như là nhiếp chính cho đến khi ông đủ tuổi. Bà đã củng cố hiệu quả nền tảng quyền lực Thebes trong những năm trước khi Ahmose có thể tự mình quyền cai trị. Nếu trong thực tế, Apepi II là người kế vị cho Apepi I, thì ông ta được cho là đã bị kiềm chế ở khu vực đồng bằng châu thổ trong thời gian nhiếp chính của Ahhotep, bởi vì tên của ông ta không xuất hiện trên bất kỳ tượng đài, công trình nào phía nam của Bubastis.[10]

Chinh phục người Hyksos[sửa | sửa mã nguồn]

Ahmose I, being depicted as fighting back the Hyksos.

Ahmose đã bắt đầu cuộc chinh phục vùng Hạ Ai Cập do người Hyksos nắm giữ bắt đầu từ khoảng năm thứ 11 của triều đại của Khamudi, nhưng chuỗi các sự kiện vẫn chưa được thống nhất.[20]

Phân tích các sự kiện của cuộc chinh phạt trước khi bao vây kinh đô Avaris của người Hyksos là vô cùng khó khăn. Hầu như tất cả mọi thứ được biết đến là từ một bài bình luận quân sự ngắn gọn nhưng vô giá ở mặt sau của cuộn giấy Papyrus Toán học Rhind, bao gồm các mục nhật ký ngắn gọn,[21] một trong đó được đọc:

Năm cai trị thứ 11, tháng thứ hai của Shomu, Heliopolis đã bị chiếm. Tháng đầu tiên của akhet, ngày 23, hoàng tử miền nam này đã phá vỡ Tjaru.

[22]

Trong quá khứ, niên đại cai trị này được giả định để chỉ Ahmose, thì ngày nay nó được tin là dùng để nhắc đến kẻ thù người Hyksos của Ahmose, Khamundi, kể từ khi cuộn giấy cói Rhind đề cập đến Ahmose bằng tước hiệu nhỏ đó là "Hoàng tử miền Nam" chứ không phải là vua hay pharaoh, hơn là một người ủng hộ phe Theban của Ahmose mà chắc chắn sẽ gọi ông như vậy[23]

Cuộn giấy cói Rhind đã làm rõ một số chiến lược quân sự của Ahmose khi tấn công khu vực châu thổ. Tiến vào Heliopolis trong tháng bảy, ông đã di chuyển xuống vùng đồng bằng phía đông để chiếm Tjaru, pháo đài biên giới quan trọng trên đường Horus, con đường từ Ai Cập đến Canaan, trong tháng mười, và hoàn toàn tránh Avaris. Nhờ việc chiếm Tjaru [22] ông đã cắt đứt tất cả sự giao thương giữa Canaan và Avaris. Điều này cho thấy ông đã lập kế hoạch cho một cuộc vây hãm Avaris, cô lập kinh đô của người Hyksos khỏi sự giúp đỡ, hoặc vật tư đến từ Canaan.[24]

Ghi chép về phần sau của chiến dịch đã được phát hiện trên các bức tường của ngôi mộ một người lính đã tham gia cuộc chiến, Ahmose, con trai của Ebana. Những ghi chép này cho thấy rằng Ahmose I đã chỉ huy ba cuộc tấn công nhằm vào Avaris, kinh đô của người Hyksos, nhưng cũng đã phải dập tắt một cuộc nổi loạn nhỏ ở phía nam Ai Cập. Sau này, trong cuộc tấn công thứ tư, ông đã chinh phục thành phố.[25] Ông đã hoàn hất chiến thắng của mình trước người Hyksos bằng việc chinh phục thành trì vững chắc của họ,Sharuhen,gần Gaza sau một cuộc vây hãm kéo dài ba năm.[16][26]

Những chiến dịch nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sir Alan Gardiner Egypt of the Pharaohs, OUP, 1964
  2. ^ The Columbia Encyclopedia, Sixth Edition. Amasis I
  3. ^ Clayton, op. cit., p.100
  4. ^ Clayton, Peter. Chronicle of the Pharaohs, Thames and Hudson Ltd, paperback 2006. p.100
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên names
  6. ^ a ă â Wiener, Malcolm H. and Allen, James P. The Ahmose Tempest Stela and the Thera Eruption p.3 Journal of Near Eastern Studies, Vol. 57, No. 1 (Jan., 1998)
  7. ^ a ă Shaw. (2000) p. 199.
  8. ^ a ă Grimal. (1988) p. 192.
  9. ^ Tiêu biểu như nhà cầm quân tài ba Thutmose III, Pharaoh thứ 6 của Vương triều thứ 18
  10. ^ a ă Grimal. (1988) p. 194.
  11. ^ Grimal. (1988) p. 190.
  12. ^ Dodson. (1990) p. 91.
  13. ^ Dodson, Aidan; Hilton, Dyan. The Complete Royal Families of Ancient Egypt, p. 126. Thames & Hudson, 2004.
  14. ^ Wente (1975) p. 271.
  15. ^ Redford. (1967) p. 28.
  16. ^ a ă â Grimal. (1988) p. 193.
  17. ^ Helk, Wolfgang. Schwachstellen der Chronologie-Diskussion pp. 47–9. Göttinger Miszellen, Göttingen, 1983.
  18. ^ a ă Breasted, James Henry. Ancient Records of Egypt, Vol. II p. 12. University of Chicago Press, Chicago, 1906.
  19. ^ Christopher Bronk Ramsey et al., Radiocarbon-Based Chronology for Dynastic Egypt, Science 18 June 2010: Vol. 328. no. 5985, pp. 1554-1557.
  20. ^ Shaw. (2000) p. 203.
  21. ^ Spalinger, Anthony J. War in Ancient Egypt: The New Kingdom, p. 23. Blackwell Publishing, 2005.
  22. ^ a ă Redford. (1992) p. 71.
  23. ^ Thomas Schneider, The Relative Chronology of the Middle Kingdom and the Hyksos Period (Dyns. 12–17)' in Erik Hornung, Rolf Krauss & David Warburton (editors), Ancient Egyptian Chronology (Handbook of Oriental Studies), Brill: 2006, p.195
  24. ^ Ahram (2005) Accessed August 23, 2006.
  25. ^ Breasted, James Henry. Ancient Records of Egypt, Vol. II, pp. 7–8. University of Chicago Press, Chicago, 1906.
  26. ^ Redford. (1967) pp. 46–49.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn Lịch sử thế giới, tài liệu nước ngoài do Bùi Đức Tịnh biên dịch, trang 38