Air Viet Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Air Vietnam
Hãng Hàng Không Việt Nam
Air VietNam logo.jpg
Mã IATA
XVN
Mã ICAO
XVN
Tên hiệu
AIR VIETNAM
Thành lập 8 tháng 6, 1951
Ngừng hoạt động 30 tháng 4, 1975
Trạm trung chuyển chính Phi trường Tân Sơn Nhứt
Trạm trung chuyển khác Phi trường Đà Nẵng
Số máy bay 15
Điểm đến 20
Khẩu hiệu The Airlines with the Charming Traditions[1]
Công ty mẹ chính phủ Việt Nam Cộng hòa
Trụ sở chính Sài Gòn, Việt Nam

Air Viet Nam, hay Hãng Hàng không Việt Nam, viết tắt Air VN, là hãng hàng không thương mại duy nhất của Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa từ 1951 đến 1975. Hãng hàng không này từng đạt con số chuyên chở hơn một triệu hành khách hàng năm khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc.

Sau năm 1975, một thời gian Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam có sử dụng tên giao dịch "Air Viet Nam" trên một số tuyến bay đến các nước phương Tây. Tuy nhiên, kể từ năm 1993, khi Hãng hàng không quốc gia Việt Nam được thành lập trên cơ sở doanh nghiệp nhà nước của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, tên giao dịch chính thức của hãng trở thành Vietnam Airlines.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay DC-3 hãng Air Viet Nam và hành khách năm 1961 ở phi trường Phú Quốc

Được thành lập ngày 8 tháng 6 năm 1951 bởi Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại, Air Viet Nam là hãng hàng không dân dụng của Quốc gia Việt Nam với số vốn 18 triệu piastre (tức tương đương với 306 triệu franc Pháp lúc bấy giờ). Chính phủ Quốc gia Việt Nam góp 50%; phần còn lại do các hãng Air France (33,5%), Vận tải hàng không Ðông Dương (SITA) (11%), Vận tải biển (Messageries maritimes) (4,5%), Hiệp hội hàng không vận tải (Union aéronautique des transports) (0,5%), và Aigle Azur Indochine (0,5%) góp chung vốn.[2] Ngày 15 tháng 10 là ngày khánh thành Air Viet Nam.[3]

Đội máy bay của Air Vietnam lúc đầu gồm có 5 chiếc Cessna 170, dùng bay chủ yếu tới những thị trấn lớn nhỏ khắp Việt Nam, trong đó có Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Hới, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha TrangBan Mê Thuột.[4]

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Phi cơ phản lực Caravelle của Air Vietnam năm 1964 ở phi trường Tân Sơn Nhất
Boeing 707-300

Sang thời Việt Nam Cộng hòa vào năm những năm 1970, Air Viet Nam bắt đầu sử dụng những chiếc máy bay Douglas DC-3 trong những chuyến bay trong nước và quốc tế. Năm 1964 tăng cường thêm máy bay phản lực Caravelle của Pháp.[5]chiến cuộc các chuyến bay hành khách dân sự quốc nội không thể bay về đêm mà phải bay vào ban ngày vì an ninh.[6] Air Viet Nam có những chuyến bay đi Phnom Penh, Bangkok, Singapore,[7] Hương CảngVạn Tượng. Năm 1965 mở thêm tuyến bay đi Kuala Lumpur; năm 1966, Đài Bắc; 1968, Manila, OsakaTokyo.[8]

Vào thời điểm năm 1968 thì chính phủ Việt Nam Cộng hòa góp 75% vốn cho hãng Air Viet Nam trong khi Air France giảm còn 25%.[9]

Khi lượng khách đi lại tăng cao trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, Air Viet Nam thêm vào một số máy bay, ban đầu là Viscount, Douglas DC-3DC-4. Cuối cùng Hãng cũng thêm vào những chiếc máy bay hiện đại, kể cả Boeing 727, một trong số đó được mua lại từ các hãng như Air France và Pan Am. Ít nhất một chiếc C-46 thuê lại từ China Airlines, và được lái bởi các phi công Đài Loan. Chiếc máy bay đó có màu sơn khác với các máy bay còn lại của Air Viet Nam.

Air Viet Nam vào thời điểm năm 1974 có 16 máy bay chở hàng hóa[10] như vận chuyển rau tươi từ Đà Lạt về Sài Gòn khi đoạn đường sắt nối liền Đà Lạt và Tháp Chàm ngưng hoạt động kể từ năm 1972.[11]

Sau 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976, sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh những cơ sở vật chất đã tiếp quản trước đó, chính phủ Việt Nam tịch thu các tài sản còn lại của Air Vietnam và chuyển cho Tổng cục Hàng không Dân dụng quản lý và sử dụng.

Bấy giờ, tên giao dịch của Hàng không Dân dụng Việt Nam là Vietnam Civil Aviation; đối với một số tuyến bay đến các nước phương Tây, tên giao dịch Air Vietnam vẫn được sử dụng. Đến năm 1993, mới thành lập Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch tiếng AnhVietnam Airlines) và là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

Lưu lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu lượng hành khách Air Vietnam
Năm Số hành khách
1959 52.000
1961[12] 288.983
1964 534.000
1968 1.146.518[13]
1969 1.510.700[13]

Số lượt khách quốc nội tăng nhanh từ 52.000 vào năm 1959 lên đến 534.000 vào năm 1964, rồi vượt hơn một triệu vào cuối thập niên 1960 với những chí điểm như Huế, Đà Nẵng, Kontum, Pleiku, Nha Trang, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Phan Thiết, Sài Gòn, Cần Thơ, Rạch Giá, Phú Quốc, và Cà Mau. Số khách trên các tuyến bay quốc ngoại đạt 70.000 vào năm 1964 trong bốn tuyến bay quốc tế vào thời điểm đó: Nam Vang, Vọng Các, Hương Cảng, và Vạn Tượng.[14] Sang năm 1969 thì số khách tuyến bay quốc ngoại là 113.910.[13]

Trụ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Air Viet Nam có hai văn phòng, một ở 116 Đại lộ Nguyễn Huệ và văn phòng II ở 13-bis Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Sang thập niên 1970 văn phòng trên Đại lộ Nguyễn Huệ chỉ dùng làm nơi giao dịch bán vé còn trụ sở chính chuyển về đường Phan Đình Phùng[15] và Đinh Tiên Hoàng khu Đakao, Sài Gòn.

Tổng giám đốc vào năm 1968 là Lương Thế Siêu.[9] Kế nhiệm ông là Nguyễn Tấn Trung, thông gia của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Trung giữ chức vụ này cho đến tận năm 1975.

Tem kỷ niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 4 năm 1971 Bưu chính Việt Nam Cộng hòa phát hành bốn con tem vẽ phong cảnh Đà Lạt, Hà Tiên, Huế, và Sài Gòn trị giá 10 đồng và 25 đồng để kỷ niệm "20 năm phát triển Hàng không Việt Nam."[16]

Điểm đến[sửa | sửa mã nguồn]

Chí điểm quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng kết chí điểm quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tai nạn và sự vụ an ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Đa số những vụ tai nạn là do hoạt động khủng bốchiến cuộc.

  1. Ngày 12 tháng 3 năm 1975: Chiếc Douglas C-54D-5-DC từ Vientiane đi Sài Gòn bị trúng pháo rớt ở vùng đối phương kiểm soát tại Pleiku. Phi hành đoàn 6 người cùng 20 hành khách đều tử nạn.[17]
  2. Ngày 15 tháng 9 năm 1974: Một người đàn ông khống chế chiếc máy bay Boeing 727 trên đường bay số 706 từ Đà Nẵng đến Sài Gòn và ra lệnh bay ra Hà Nội. Nghi phạm cho nổ hai trái lựu đạn và chiếc máy bay rơi ở Phan Rang khi nó vượt quá đường băng trong lúc đang cố gắng hạ cánh. Tất cả 70 người trên máy bay đều thiệt mạng.[18]
  3. Ngày 20 tháng 2 năm 1974: Một chiếc DC-4 bị khống chế khi đang trên đường đi từ Đà Lạt đến Đà Nẵng. Một không tặc 19 tuổi người miền Nam Việt Nam ra lệnh bay ra miền Bắc Việt Nam. Khi máy bay hạ cánh ở Huế, vì phát hiện ra mình bị lừa nên đã cho nổ trái lựu đạn tự tử, làm thiệt mạng hai nhân viên cảnh sát.
  4. Ngày 17 tháng 11 năm 1973: chiếc Douglas DC-3 của Air Vietnam rơi tại Quảng Ngãi làm 27 người thiệt mạng.[19]
  5. Ngày 19 tháng 3 năm 1973: chiếc máy bay DC-4 từ Sài Gòn đi Ban Mê Thuột bị nạn trong khi đang hạ cánh do một vụ nổ xảy ra trong khoang hành lý làm tất cả 58 người thiệt mạng. Vụ nổ rất có thể là do đánh bom khủng bố.[20]
  6. Ngày 24 tháng 9 năm 1972: chiếc C-54 rơi gần Bến Cát, Củ Chi làm 10 trên 13 người thiệt mạng.[21]
  7. Ngày 22 tháng 7 năm 1970: Một binh nhì trong quân đội Hoa Kỳ đã khống chế một chiếc DC-4 trên đường từ Pleiku đến Sài Gòn. Người lính bị bắt giam ở Sài Gòn sau khi cố gắng buộc phi công đưa đến Hồng Kông. Không có thương vong nào.
  8. Ngày 22 tháng 12: chiếc DC-6B chở 77 người trong khi sắp hạ cánh bị gài bom nổ ở Nha Trang làm 10 người thiệt mạng. Phi cơ đâm vào một ngôi trường.[22]
  9. Ngày 20 tháng 9 năm 1969: một chiếc DC-10 trên đường bay từ Pleiku đến Đà Nẵng thì va chạm với chiếc F-4 của Không quân Hoa Kỳ trên bầu trời Hội An[23] làm 74/75 người trên máy bay và 2 dân thường dưới mặt đất thiệt mạng. Chiếc F-4 hạ cánh an toàn.

Nhân vật liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kỹ sư Lương Thế Siêu: Tổng giám đốc
  • Nguyễn Tấn Trung: Tổng Giám đốc
  • Kỹ sư Lâm Ngọc Diệp: Phó Tổng Giám đốc

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Air Vietnam Services
  2. ^ Kinh tế Ðông Dương từ 1945 đến 1954 trong vùng thuộc Pháp
  3. ^ Nguyễn An Tiêm. "Sổ luân lưu". Khởi Hành Năm XV, số 169. Tháng 11, 2010. tr 7
  4. ^ Air Vietnam Forges Ahead
  5. ^ "World Business: French Violets" Time Magazine
  6. ^ "South Viet Nam: Flying Above the War" Time Magazine
  7. ^ "South Viet Nam: Flying Above the War" Time Magazine
  8. ^ Embassy of Viet-Nam. Viet-Nam Bulletin. Viet-Nam Info series 41. Washington, DC: Embassy of Viet-Nam, 1970.
  9. ^ a ă Flight Archive
  10. ^ "Combat Profit" Time Magazine
  11. ^ Từ Krong Pha...
  12. ^ Choinski, Walter. tr 121
  13. ^ a ă â Civil Aviation in Viet-Nam
  14. ^ Smith, Harvey et al. tr 374-5
  15. ^ Sau năm 1975 đổi là đường Nguyễn Đình Chiểu
  16. ^ Tem thư Việt Nam 1972
  17. ^ [1]
  18. ^ [2]
  19. ^ [3]
  20. ^ [4]
  21. ^ [5]
  22. ^ [6]
  23. ^ [7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Choinski, Walter Frank. Country Study: Republic of Vietnam. Washington, DC: The Military Assistance Institute, 1965.
  • Embassy of Viet-Nam. Viet-Nam Bulletin. Viet-Nam Info series 41. Washington, DC: Embassy of Viet-Nam, 1970.
  • Smith, Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]