Akitsu Maru (tàu sân bay Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AkitsuMaru.jpg
Tàu sân bay hộ tống Nhật Bản Akitsu Maru
Phục vụ (Nhật Bản) Nhật Bản
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Harima, Harima[1]
Hoạt động: tháng 1 năm 1942
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ Queenfish (SS-393) đánh chìm ngày 15 tháng 11 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Akitsu Maru
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn (tiêu chuẩn) [1]
Độ dài: 143,7 m (471 ft 7 in) [1]
Sườn ngang: 19,5 m (64 ft) [1]
Mớn nước: 7,85 m (25 ft 9 in) (tối đa)[1]
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 7.500 mã lực (5,6 MW) [1]
Tốc độ: 37 km/h (20 knot)[1]

Akitsu Maru (tiếng Nhật: あきつ丸) là một tàu sân bay hộ tống được Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Một số nguồn cho là Akitsu Maru và con tàu chị em Nigitsu Maru là những tàu tấn công đổ bộ đầu tiên trên thế giới. Nó bị tàu ngầm Mỹ Queenfish (SS-393) đánh chìm vào ngày 15 tháng 11 năm 1944.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Akitsu Maru là một tàu biển chở khách được Lục quân Đế quốc Nhật Bản trưng dụng trước khi hoàn tất. Con tàu được trang bị một sàn cất cánh bên trên thân tàu, nhưng không có hầm chứa, nên máy bay được cất giữ bên dưới trên sàn tàu chính. Máy bay có thể cất cánh từ con tàu nhưng không thể hạ cánh do không có các thiết bị hỗ trợ hạ cánh phù hợp; và đó là tình trạng chung của mọi con tàu sân bay của Lục quân. Trong hoạt động thực tế, nó cùng với tàu chị em Nigitsu Maru là những tàu vận chuyển máy bay.[2] Có nguồn cho rằng con tàu còn hoạt động những chiếc máy bay tự cất cánh autogiro.[3] Vai trò được dự định của Akitsu Maru là hỗ trợ trên không cho các chiến dịch đổ bộ.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 18 tháng 11 năm 1943, trong khi di chuyển cùng tàu khu trục phóng lôi Tomazuru, Akitsu Maru bị tàu ngầm Mỹ Crevalle (SS-291) phóng ngư lôi tấn công ở lối ra vào vịnh Manila. Crevalle đã báo cáo nhầm là Akitsu Maru đã bị đánh chìm.[4] Thực ra Akitsu Maru chỉ bị tàu ngầm Queenfish (SS-393) đánh chìm vào ngày 15 tháng 11 năm 1944.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Gardiner; Chesnau. Conway's All the World's Fighting Ships, 1922–1946. tr. 213. 
  2. ^ Worth. Fleets of World War II. tr. 176. 
  3. ^ Brooks. Cierva Autogiros. tr. 276–277. 
  4. ^ Cressman. The Official Chronology of the U.S. Navy in World War II. tr. 193–194. 
  5. ^ Roscoe and Voge. United States Submarine Operations in World War II. tr. 416. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brooks, Peter W. (1988). Cierva Autogiros: The Development of Rotary-Wing Flight. Washington, D.C.: Smithsonian Institution Press. ISBN 0874742684. 
  • Cressman, Robert (2000). The Official Chronology of the U.S. Navy in World War II. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1557501491. 
  • Gardiner, Robert; Chesnau, Roger (1980). Conway's All the World's Fighting Ships, 1922–1946. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 0870219138. 
  • Roscoe, Theodore; Voge, R. G. (1949). United States Submarine Operations in World War II. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 0870217313. 
  • Worth, Richard (2002). Fleets of World War II. Cambridge, MA: Da Capo Press. ISBN 0306811162.