Aleksandr Aleksandrovich Blok

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Aleksandr Aleksandrovich Blok
Sinh 16 tháng 11 năm 1880
Sankt-Peterburg, Nga
Mất 7 tháng 8 năm 1921
Petrograd, Nga
Công việc Nhà thơ
Thể loại Thơ

Aleksandr Aleksadrovich Blok (tiếng Nga: Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок; 16 tháng 11 năm 1880 - 7 tháng 8 năm 1921) là một nhà thơ người Nga. Là nhà thơ hàng đầu của trường phái hình tượng Nga, Blok cùng với những nhà thơ lớn khác đã tạo nên một "Thế kỷ bạc" của thơ ca Nga.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh A. Blok thập niên 1910

Aleksandr Blok sinh ra trong một gia đình trí thức. Bố là một luật sư Ba Lan gốc Đức, mẹ là con gái của hiệu trưởng Đại học Sankt-Peterburg.

Lên 5 tuổi đã biết làm thơ. Tuổi nhỏ, ông thường đến sống ở điền trang Shakhmatovo của ông ngoại vào những tháng hè. Những bài thơ về phong cảnh thiên nhiên Nga in trong tập Thơ tuổi thiếu niên (Отроческие стихи, 1922). Blok học khoa luật (1898-1901), sau đó học khoa ngôn ngữ (tốt nghiệp năm 1906) ở Đại học Sankt-Peterburg.

Năm 1903 Blok cưới Lyubov Mendeleeva, con gái của nhà hóa học Dmitri Ivanovich Mendeleev. Hai người đẹp đôi như hoàng tử và công chúa trong giới thượng lưu Sankt-Peterburg nhưng Blok không thể chung thủy với một người trong tình yêu mà thường xuyên yêu những người đẹp thượng lưu khác. Từ những cuộc tình này mà xảy ra xung đột với nhà thơ Andrei Bely - người trở thành tình nhân của Lyubov Mendeleeva. Lyubov Mendeleeva nhiều lần viết đơn ly dị nhưng Blok không chịu ký. Từ sau Thế chiến I, Blok ít trăng hoa hơn nhiều so với trước và sống hạnh phúc những năm cuối đời với Lyubov Mendeleeva. Kết quả của cuộc hôn nhân này là hơn 800 bài thơ viết về người phụ nữ này.

Phong cách thơ của Blok hình thành trong sự phát triển mạnh mẽ của trường phái thơ hình tượng, mà Blok là chủ soái. Thơ của Blok được dịch ra nhiều thứ tiếng, tiếng Việt có bản dịch "100 bài thơ Aleksandr Blok" của Nguyễn Viết Thắng và các bản dịch của Bằng Việt, Thúy Toàn, Nguyễn Xuân Hòa... (đã in thành sách).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Стихи о Прекрасной Даме (Thơ về người đàn bà tuyệt vời, 1904), thơ
  • Город (Thành phố, 1904-1908), thơ
  • Роза и крест (Hoa hồng và thập ác, 1912), kịch
  • Родина (Tổ quốc, 1907-1916), thơ
  • Возмездие (Trừng phạt, 1910-1921), thơ
  • Двенадцать (Mười hai chiến sĩ, 1918), thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ "Đêm, đường phố..." trên một ngôi nhà ở Hà Lan
Ночь, улица, фонарь, аптека
 
Ночь, улица, фонарь, аптека,
Бессмысленный и тусклый свет.
Живи еще хоть четверть века -
Все будет так. Исхода нет.
 
Умрешь - начнешь опять сначала
И повторится все, как встарь:
Ночь, ледяная рябь канала,
Аптека, улица, фонарь.
 
Старинные розы
 
Старинные розы
Несу, одинок,
В снега и в морозы,
И путь мой далек.
 
И той же тропою,
С мечом на плече,
Идет он за мною
В туманном плаще.
 
Идет он и знает,
Что снег уже смят,
Что там догорает
Последний закат
 
Что нет мне исхода
Всю ночь напролет,
Что больше свобода
За мной не пойдет.
 
И где, запоздалый,
Сыщу я ночлег?
Лишь розы на талый
Падают снег.
 
Лишь слезы на алый
Падают снег.
Тоскуя смертельно,
Помочь не могу.
 
Он розы бесцельно
Затопчет в снегу.
 
Россия
 
Опять, как в годы золотые,
Три стертых треплются шлеи,
И вязнут спицы росписные
В расхлябанные колеи...
 
Россия, нищая Россия,
Мне избы серые твои,
Твои мне песни ветровые,-
Как слезы первые любви!
 
Тебя жалеть я не умею
И крест свой бережно несу...
Какому хочешь чародею
Отдай разбойную красу!
 
Пускай заманит и обманет,-
Не пропадешь, не сгинешь ты,
И лишь забота затуманит
Твои прекрасные черты...
 
Ну что ж? Одно заботой боле -
Одной слезой река шумней
А ты все та же - лес, да поле,
Да плат узорный до бровей...
 
И невозможное возможно,
Дорога долгая легка,
Когда блеснет в дали дорожной
Мгновенный взор из-под платка,
Когда звенит тоской острожной
Глухая песня ямщика!..
Đêm, đường phố, hiệu thuốc, đèn lồng
 
Đêm, đường phố, hiệu thuốc, đèn lồng
Thế gian này nhạt nhẽo và vô nghĩa.
Dù sống thêm một phần tư thế kỷ
Thì cuộc đời cũng chẳng mới gì hơn.
 
Khi chết đi – tất cả lại mở màn
Tất cả lặp lại như thời thượng cổ
Đêm, hiệu thuốc, đèn lồng, đường phố
Và mặt nước kênh gợn sóng lăn tăn.
 
Những bông hoa ngày cũ
 
Những bông hoa ngày cũ
Ta mang theo, một mình
Đi vào tuyết, giá băng
Con đường xa vời vợi.
 
Vẫn theo lối mòn xưa
Trên vai ta thanh kiếm
Kiếm đi cùng với ta
Trong áo sương che kín.
 
Kiếm đi theo và biết
Rằng tuyết đã dần tan
Đằng kia đang cháy hết
Ánh hoàng hôn cuối cùng.
 
Rằng với ta – ngày tàn
Chỉ màn đêm quạnh quẽ
Tự do từ nay sẽ
Không đi theo sau lưng.
 
Ở đâu, khi muộn màng
Ta tìm ra nơi ngủ
Những bông hồng ngày cũ
Đang rơi trên tuyết tan.
 
Chỉ trên tuyết màu hồng
Giọt nước mắt rơi xuống
Ta không còn hy vọng
Ta đợi phút lâm chung.
 
Còn kiếm vẻ lạnh lùng
Dìm hoa xưa vào tuyết.
 
Nước Nga
 
Bây giờ lại như những tháng năm vàng
Ba vòng đai lưng đã mòn đang run rẩy
Những nan hoa của bánh xe kết lại
Những bức tranh trong những bánh xe lăn.
 
Ôi nước Nga, ôi nước Nga nghèo khó
Nhà gỗ của Người màu xám thương sao
Những bài ca của Người trong gió
Đối với ta như nước mắt tình đầu!
 
Xót thương Người ta không biết làm sao
Cây thập ác của mình ta vẫn vác…
Người muốn để cho kẻ làm bùa phép
Thì vẻ tuyệt vời cướp bóc hãy trao!
 
Mặc cho ai dụ dỗ, dối lừa
Không quì gối, nước Nga không thể chết
Duy chỉ có điều lo lắng làm mờ
Những đường nét của Người tuyệt đẹp.
 
Thôi đành thế. Một nỗi lo nhiều hơn
Thêm giọt nước mắt, sông thêm ầm ĩ
Còn Người vẫn thế – rừng và cánh đồng
Và tấm khăn thêu trên đầu – vẫn thế.
 
Thành có thể cả điều không thể tưởng
Con đường dài lâu bỗng hoá nhẹ nhàng
Khi ánh lên ở miền xa thẳm
Ánh mắt nhìn dưới tấm khăn vuông
Khi bài hát người xà ích cẩn trọng
Đang vang lên thấm đượm một nỗi buồn...
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]